Truy cập nội dung luôn
Cổng thông tin điện tử

Uỷ ban quản lý vốn nhà nước
Tại doanh nghiệp

Thứ sáu, Ngày 08/09/2017

Giải đáp gần 100 câu hỏi về chế độ, chính sách BHXH, BHYT, BH thất nghiệp

28/05/2020

Nhằm cung cấp đầy đủ thông tin, giải đáp, tháo gỡ kịp thời những câu hỏi, vướng mắc của người dân, người lao động, người sử dụng lao động trong lĩnh vực BHXH, BHYT, ngày 27/5/2020, BHXH Việt Nam tổ chức Giao lưu trực tuyến với bạn đọc về chính sách BHXH, BHYT trên Cổng Thông tin điện tử.

Khách mời tham gia Chương trình giao lưu trực tuyến là đại diện lãnh đạo và các chuyên gia đến từ các đơn vị trực thuộc BHXH Việt Nam: Ban Thực hiện chính sách BHXH, Ban Thực hiện chính sách BHYT; Ban Thu; Ban Sổ - Thẻ... Dưới đây là nội dung chương trình giao lưu, các câu hỏi của bạn đọc, người lao động gửi đến và trả lời, giải đáp của các chuyên gia BHXH Việt Nam:

Lãnh đạo Trung tâm Truyền thông BHXH Việt Nam tặng hoa cảm ơn đại diện các chuyên gia tham gia trả lời bạn đọc

Câu 1. Bạn đọc có địa chỉ email yngoc...@gmail.com hỏi:

Tôi kết thúc hợp đồng lao động vào 01/5/2019. Tôi tham gia BHXH được 13 năm và đang hưởng trợ cấp thất nghiệp tháng thứ 8. Tôi đang mang thai được 2 tháng. Cho tôi hỏi tôi có được hưởng chế độ thai sản không?

BHXH Việt Nam trả lời:

Khoản 2, Khoản 3 Điều 31 Luật BHXH năm 2014 quy định điều kiện hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ sinh con là: Phải đóng BHXH từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc lao động nữ đã đóng BHXH từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng BHXH từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.

Khoản 4 Điều 31 Luật BHXH quy định: Người lao động đủ điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 31 Luật BHXH mà chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con thì vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định

Do Bạn không nêu cụ thể thời điểm bạn dự kiến sinh con nên BHXH Việt Nam không có căn cứ để trả lời cụ thể đối với Bạn. Trường hợp của Bạn nếu tại thời điểm sinh con, Bạn đủ điều kiện theo quy định nêu trên thì Bạn được hưởng chế độ thai sản khi con.

Câu 2. Bạn đọc Phạm Văn Quang hỏi:

Tôi tham gia nghĩa vụ quân sự từ 9/2011, xuất ngũ 8/2013. Trước khi nhập ngũ tôi chưa tham gia BHXH, sau khi xuất ngũ tôi làm việc cho 1 công ty liên doanh du lịch và có tham gia BHXH tới giờ. Vậy xin hỏi thời gian tôi tham gia nghĩa vụ quân sự có được hưởng chế độ BHXH không ?

BHXH Việt Nam trả lời:

Thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự của Bạn từ tháng 9/2011 đến tháng 8/2013 chỉ được cộng nối với thời gian tham gia BHXH sau này để tính hưởng BHXH trong trường hợp thời gian này Bạn đã đóng BHXH và chưa hưởng trợ cấp xuất ngũ.

Câu 3: Bạn đọc có địa chỉ email bknam...@gmail.com hỏi:

Tôi năm nay 58 tuổi làm tự do, nay muốn tham gia BHXH tự nguyện có được không? Nếu được tham gia phải đóng góp thế nào và thời hạn là bao lâu thì mới được hưởng lương hưu theo bảo hiểm?

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 2 Luật BHXH thì người tham gia BHXH tự nguyện là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc theo quy định của pháp luật. Trường hợp của Ông/Bà, đang làm tự do, không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc nên có thể tham gia BHXH tự nguyện.

Về mức đóng BHXH tự nguyện, căn cứ quy định tại Điều 10 Nghị định số 134/2015/NĐ-CP ngày 29/12/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật BHXH về BHXH tự nguyện, mức đóng BHXH hằng tháng bằng 22% mức thu nhập tháng do người tham gia BHXH tự nguyện lựa chọn. Mức thu nhập tháng do người tham gia BHXH tự nguyện lựa chọn thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn (hiện nay là 700.000 đồng/tháng), cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở (hiện nay là 29.800.000 đồng).

Về phương thức đóng, căn cứ quy định tại Điều 9 Nghị định số 134/2015/NĐ-CP, người tham gia được chọn linh hoạt các phương thức đóng sau đây:

- Đóng hằng tháng;

- Đóng 03 tháng một lần;

- Đóng 06 tháng một lần;

- Đóng 12 tháng một lần;

- Đóng một lần cho nhiều năm về sau nhưng không quá 5 năm một lần;

- Đóng một lần cho những năm còn thiếu đối với người tham gia BHXH đã đủ điều kiện về tuổi để hưởng lương hưu theo quy định nhưng thời gian đóng BHXH còn thiếu không quá 10 năm (120 tháng) thì được đóng cho đủ 20 năm để hưởng lương hưu.

Về điều kiện hưởng lương hưu, căn cứ quy định tại Điều 73 Luật BHXH, người lao động được hưởng lương hưu khi đủ điều kiện về tuổi đời đối với nam là đủ 60 tuổi, nữ là đủ 55 tuổi (từ năm 2021 trở đi, tuổi nghỉ hưu được quy định tại Điều 169 Bộ Luật Lao động năm 2019) và có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên, trường hợp người lao động đã đủ điều kiện về tuổi nhưng thời gian đóng BHXH chưa đủ 20 năm thì được đóng cho đến khi đủ 20 năm để hưởng lương hưu.

Trường hợp của Ông năm nay 58 tuổi, Ông nên tham gia ngay BHXH tự nguyện liên tục cho đến khi đủ 10 năm đóng BHXH sẽ được đóng tiếp một lần cho 10 năm còn thiếu và được hưởng lương hưu ngay tháng liền kề tháng đóng đủ 20 năm tham gia BHXH.

Các chuyên gia của BHXH Việt Nam trả lời trực tuyến bạn đọc

Câu 4. Bạn đọc có địa chỉ email Huongnguyen…@gmail.com hỏi:

Em có tham gia BHXH từ tháng 10/2017 đến 31/12/2019 thì công ty kết thúc hợp đồng (công ty của em kí hợp đồng 12 tháng 1 lần và khi biết em có thai thì không tiếp tục kí hợp đồng nữa). Hiện tại khi kết thúc hợp đồng thì em đang mang thai được 2 tháng dự kiến sinh của em vào 06/8/2020. Anh chị cho em hỏi như vậy quá trình đóng BHXH của em đã đủ 6 tháng trong 12 tháng trước sinh chưa? Và em có đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản không? Trường hợp thai của em yếu và có giấy nằm viện từ 3 tháng của bệnh viện thì em có được hưởng thai sản không? Em cảm ơn anh chị nhiều ạ.

BHXH Việt Nam trả lời:

Khoản 2, Khoản 3 Điều 31 Luật BHXH năm 2014 quy định điều kiện hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ sinh con là: Phải đóng BHXH từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc lao động nữ đã đóng BHXH từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng BHXH từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.

Khoản 4 Điều 31 Luật BHXH quy định: Người lao động đủ điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 31 Luật BHXH mà chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con thì vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định.

Trường hợp của bạn, nếu bạn sinh con vào thời điểm 06/8/2020 thì bạn mới có 05 tháng đóng BHXH (từ tháng 8/2019 đến tháng 12/2019) trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con (từ tháng 8/2019 – tháng 7/2020). Do đó, bạn không đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản khi sinh con theo quy định tại Khoản 2 Điều 31 Luật BHXH năm 2014.

Trường hợp khi mang thai bạn phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền theo quy định tại Thông tư số 56/2017/TT-BYT ngày 29/12/2017 của Bộ Y tế thì bạn đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản khi sinh con theo quy định tại Khoản 3, Điều 31 Luật BHXH năm 2014.

Câu 5. Bạn đọc Thanh Thi Lê hỏi:

Tôi tham gia BHXH được 8 tháng và mang thai được 7 tháng thì công ty tôi ngừng hoạt động nên tôi phải tạm ngừng đóng BHXH. Như vậy khi tôi sinh con có được hưởng chế độ thai sản không?

BHXH Việt Nam trả lời:

Điều kiện hưởng chế độ thai sản được quy định như sau:

- Theo  khoản 2, Điều 31 Luật BHXH quy định “lao động nữ phải đóng đủ từ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận con nuôi” thì được hưởng chế độ thai sản.

- Theo  khoản 4, Điều 31 Luật BHXH quy định: “Người lao động đủ điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này mà chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định tại các Điều 34, 36, 38 và khoản 1 Điều 39 của Luật này.

 Đối chiếu với các quy định nêu trên, nếu trong vòng 12 tháng trước khi sinh bạn đóng BHXH đủ từ 6 tháng trở lên thì bạn đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản. Đơn vị sử dụng lao động tạm ngừng hoạt động không ảnh hưởng đến quyền lợi của bạn.

Câu 6. Bạn đọc có địa chỉ email ntthuy...@gmail.com hỏi:

Tôi có thay đổi chứng minh nhân dân sang thẻ căn cước công dân (do chứng minh hết hạn) vậy sổ BHXH của tôi có cần phải thay đổi gì không ạ? Tôi có cần báo lại công ty tôi đang làm để thay đổi gì không ạ?

BHXH Việt Nam trả lời:

Việc thay đổi từ chứng minh nhân dân sang căn cước công dân không làm ảnh hưởng tới quá trình tham gia đóng, hưởng BHXH. Tuy nhiên, để thống nhất trong quản lý, đề nghị bạn lập Tờ khai tham gia, điều chỉnh thông tin BHXH, BHYT (mẫu TK1-TS) nộp thông qua đơn vị hoặc trực tiếp cho cơ quan BHXH để cập nhật số căn cước công dân mới trên cơ sở dữ liệu.

Câu 7: Bạn đọc có địa chỉ email phamthithu....@quangninh.edu.vn  hỏi:

Tôi là Phạm Thị Thu Trang, sinh ngày 15/06/1984; địa chỉ tại khu 7, Việt Hưng, Hạ Long, Quảng Ninh. Con trai tôi là Đào Huy Đức, sinh ngày 15/01/2010. Địa chỉ tại Vạn Yên, Việt Hưng, Hạ Long, Quảng Ninh. Tuy nhiên khi nhập đủ dữ liệu ngày sinh thì không tìm thấy thông tin. Còn nếu chỉ nhập thông tin năm sinh thì nhận được kết quả là 1 dữ liệu cùng tên, cùng địa chỉ, cùng mã hộ gia đình nhưng có ngày sinh là 15/10/2010. Vậy tôi cần làm thế nào để sửa lại thông tin cho đúng cho cháu.

BHXH Việt Nam trả lời:

Đề nghị bạn lập Tờ khai tham gia điều chỉnh thông tin BHXH, BHYT (Mẫu TK1-TS) kèm theo bản sao giấy khai sinh nộp cho cơ quan BHXH để được điều chỉnh.

Câu 8. Bạn đọc Phạm Thị Lan Phương hỏi:

Làm thế nào để theo dõi BHXH của mình có đang được công ty cũ tiến hành đóng bù những tháng BHXH cũ của tôi mà họ đóng sót hay không (ngoài việc theo dõi quá trình tham gia đóng BHXH trên trang trực tuyến vì trên đó chỉ hiện đã đóng)? Tôi có thể cập nhật thông tin đó qua tổng đài viên hay hỏi nhân viên BHXH không?

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo quy định tại Khoản 7 Điều 18 Luật BHXH 2014 người lao động có quyền: “Định kỳ 06 tháng được người sử dụng lao động cung cấp thông tin về đóng bảo hiểm xã hội; định kỳ hằng năm được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận về việc đóng bảo hiểm xã hội; được yêu cầu người sử dụng lao động và cơ quan bảo hiểm xã hội cung cấp thông tin về việc đóng, hưởng bảo hiểm xã hội”.

Theo quy định tại Khoản 7, 8 Điều 21 Luật BHXH 2014 người sử dụng lao động có trách nhiệm:

“Định kỳ 06 tháng, niêm yết công khai thông tin về việc đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động; cung cấp thông tin về việc đóng bảo hiểm xã hội của người lao động khi người lao động hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu.

Hằng năm, niêm yết công khai thông tin đóng bảo hiểm xã hội của người lao động do cơ quan bảo hiểm xã hội cung cấp theo quy định tại khoản 7 Điều 23 của Luật này.”

 Theo đó, hằng năm cơ quan BHXH đã gửi Thông báo kết quả đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN (Mẫu C13-TS) tới đơn vị sử dụng lao động để niêm yết công khai cho người lao động được biết.

Ngoài ra, bạn có thể liên hệ với cơ quan BHXH nơi đơn vị đăng ký tham gia để biết thêm chi tiết hoặc gọi tổng đài 1900 9068 để được hỗ trợ, tư vấn.

Câu 9. Bạn đọc Đỗ Nhật Linh hỏi:

Tôi đã nghỉ hết thời gian thai sản 6 tháng theo quy định, tôi đi làm được 1 ngày thì nghỉ chế độ dưỡng sức phục hồi sức khỏe có được không? Thời gian nghỉ là bao lâu và mức hưởng như thế nào?

BHXH Việt Nam trả lời:

Điều 41, Luật BHXH 2014 quy định:

1. Lao động nữ ngay sau thời gian hưởng chế độ thai sản quy định tại Điều 33, khoản 1 hoặc khoản 3 Điều 34 của Luật này, trong khoảng thời gian 30 ngày đầu làm việc mà sức khỏe chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ 05 ngày đến 10 ngày.

Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe bao gồm cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần. Trường hợp có thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ cuối năm trước chuyển tiếp sang đầu năm sau thì thời gian nghỉ đó được tính cho năm trước.

2. Số ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe quy định tại khoản 1 Điều này do người sử dụng lao động và Ban Chấp hành công đoàn cơ sở quyết định, trường hợp đơn vị sử dụng lao động chưa thành lập công đoàn cơ sở thì do người sử dụng lao động quyết định. Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe được quy định như sau:

a) Tối đa 10 ngày đối với lao động nữ sinh một lần từ hai con trở lên;

b) Tối đa 07 ngày đối với lao động nữ sinh con phải phẫu thuật;

c) Tối đa 05 ngày đối với các trường hợp khác.

3. Mức hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản, một ngày bằng 30% mức lương cơ sở.

Câu 10. Bạn đọc Chung Hoàng hỏi:

Tôi làm việc có đóng BHXH tại công ty đến tháng 02/2018 tôi làm đơn xin nghỉ chấm dứt HĐLĐ. Đến nay đã hơn 2 năm rồi công ty lại không trả lại sổ BHXH cho tôi. Vậy tôi phải làm thế nào nào để lấy được sổ BHXH?

BHXH Việt Nam trả lời:

- Tại khoản 2, Điều 18, Luật BHXH số 58/2014/QH13 quy định quyền của người lao động: "Được cấp và quản lý sổ BHXH"

- Tại khoản 5, Điều 21, Luật BHXH số 58/2014/QH13 quy định: Trách nhiệm của người sử dụng lao động là phối hợp với cơ quan BHXH trả sổ BHXH cho người lao động, xác nhận thời gian đóng BHXH khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật.

Vì vậy, đề nghị bạn liên hệ với đơn vị cũ để yêu cầu đơn vị làm thủ tục xác nhận quá trình đóng BHXH và trả sổ BHXH cho bạn. Trong trường hợp công ty cố tình không trả sổ BHXH cho bạn, bạn có thể làm đơn khiếu nại lên Ban giám đốc công ty hoặc thông qua tổ chức Công đoàn tại công ty để khiếu nại về việc không trả sổ BHXH cho bạn. Nếu không được thì bạn có thể gửi đơn đến Thanh tra lao động thuộc Phòng Lao động Thương binh - Xã hội để cơ quan này giải quyết buộc công ty trả lại sổ BHXH cho bạn.

Câu 11. Bạn đọc Huỳnh Giao hỏi:

Tôi tham gia BHXH liên tực từ tháng 01/2019 đến nay được 1 năm 03 tháng, hiện tôi đang mang thai tháng thứ 7. Nay công ty có thông báo ngừng đóng BHXH từ tháng 4/2020. Vậy còn 2 tháng nữa tôi mới nghỉ sinh con thì có được hưởng chế độ thai sản không?

BHXH Việt Nam trả lời:

Điều kiện hưởng chế độ thai sản được quy định như sau:

- Theo  khoản 2, Điều 31 Luật BHXH quy định “Lao động nữ phải đóng đủ từ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận con nuôi” thì được hưởng chế độ thai sản.

- Theo  khoản 4, Điều 31 Luật BHXH quy định: “Người lao động đủ điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này mà chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định tại các Điều 34, 36, 38 và khoản 1 Điều 39 của Luật này”.

Đối chiếu với các quy định nêu trên, nếu trong vòng 12 tháng trước khi sinh bạn đóng BHXH đủ từ 6 tháng trở lên thì bạn đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản. Đơn vị sử dụng lao động tạm ngừng đóng BHXH không ảnh hưởng đến quyền lợi của bạn.

Câu 12. Bạn đọc Huỳnh Giang hỏi:

Cho tôi hỏi sau khi sinh con thì trong thời gian bao nhiêu lâu tôi nhận được tiền thai sản? 

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo Điều 102, Luật BHXH 2014 quy định:

1. Trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày trở lại làm việc, người lao động có trách nhiệm nộp hồ sơ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 100, các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 101 của Luật này cho người sử dụng lao động. Trường hợp người lao động thôi việc trước thời điểm sinh con, nhận nuôi con nuôi thì nộp hồ sơ quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 101 của Luật này và xuất trình sổ BHXH cho cơ quan BHXH.

2. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ từ người lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm lập hồ sơ quy định tại Điều 100 và Điều 101 của Luật này nộp cho cơ quan BHXH.

3. Trách nhiệm giải quyết của cơ quan BHXH:

a) Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định từ người sử dụng lao động, cơ quan BHXH phải giải quyết và tổ chức chi trả cho người lao động;

b) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định từ người lao động thôi việc trước thời điểm sinh con, nhận nuôi con nuôi, cơ quan BHXH phải giải quyết và tổ chức chi trả cho người lao động.

4. Trường hợp cơ quan BHXH không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Câu 13. Bạn đọc Ni Ha hỏi:

Tôi đi làm có tham gia BHXH tại 1 công ty được 7 tháng, sau đó tôi nghỉ việc tại công ty này quá 3 tháng tôi chưa tìm được việc làm thì tôi có được hưởng trợ cấp thất nghiệp và BHXH 1 lần không? Quá 3 tháng kể từ khi nghỉ việc tại công ty này tôi mới bắt đầu làm việc có đóng BHXH tại công ty khác thì tôi có được cộng nối vào thời gian đã đóng BHXH trước đó không?

BHXH Việt Nam trả lời:

Tại Điểm b, Khoản 1, Điều 8, Nghị định số 115/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 của Chính phủ quy định: “Người lao động sau 1 năm nghỉ việc mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH và không tiếp tục đóng BHXH mà có yêu cầu thì được hưởng BHXH 1 lần”.

Tại Điều 49 Luật việc làm số 38/2013/QH13 quy định: Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng BH thất nghiệp được hưởng TCTN khi có đủ các điều kiện sau đây:

- Chấm dứt HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp (Người lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ, hợp đồng làm việc trái pháp luật; Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng)

 - Đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp ký HĐLĐ không xác định thời hạn hoặc HĐLĐ có xác định thời hạn;

- Đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt HĐLĐ đối với trường hợp HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng.

- Đã nộp hồ sơ hưởng TCTN tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này;

Đối chiếu với các quy định nêu trên, trường hợp của bạn tham gia BHXH, BHTN được 7 tháng nên chưa đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp. Muốn hưởng BHXH 1 lần phải chờ sau 1 năm nghỉ việc không tiếp tục tham gia BHXH mới đủ điều kiện hưởng. Nếu sau 3 tháng bạn tiếp tục đi làm có đóng BHXH thì bạn đóng tiếp với thời gian đã đóng 7 tháng trước đó để cộng dồn thời gian làm căn cứ tính hưởng chế độ BHXH sau này.

Câu 14. Bạn đọc Vũ Xuân Vinh hỏi:

Số CMND của tôi bị sai so với sổ, tôi muốn thay đổi thì làm thế nào?

BHXH Việt Nam trả lời:

Đề nghị bạn lập Tờ khai tham gia, điều chỉnh thông tin BHXH, BHYT (mẫu TK1-TS) nộp cho cơ quan BHXH để điều chỉnh trên cơ sở dữ liệu.

Câu 15. Bạn đọc có địa chỉ email nguyenvan…@gmail.com hỏi:

Tôi đã thay đổi nơi ở và cấp lại CMND mới thì cập nhật với BHXH như thế nào?

BHXH Việt Nam trả lời:

Việc thay đổi nơi ở và CMND không làm ảnh hưởng tới quá trình tham gia đóng, hưởng BHXH. Tuy nhiên, để thống nhất trong quản lý, đề nghị bạn lập Tờ khai tham gia, điều chỉnh thông tin BHXH, BHYT (mẫu TK1-TS) nộp cho cơ quan BHXH để cập nhật số CMND, địa chỉ mới trên cơ sở dữ liệu của BHXH Việt Nam.

Các chuyên gia của BHXH Việt Nam trả lời trực tuyến bạn đọc

Câu 16. Bạn đọc có địa chỉ email thaithuy…@gmail.com hỏi:

Tôi đã từng làm việc tại 1 công ty, công ty đó có đóng BHXH cho tôi 2 tháng thì tôi nghỉ việc. 3 tháng sau tôi làm tại công ty mới, thì tôi chỉ việc cung cấp mã số BHXH để công ty mới đóng tiếp cho tôi phải không? Và công ty cũ kia ở trong nam (tôi ngoài bắc) thì tôi có thể báo mất sổ BHXH để được cấp lại sổ mới (vẫn số BHXH cũ) có được không? Hay phải đến trực tiếp công ty cũ để lấy sổ?

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo quy định tại Khoản 5, Điều 21 Luật BHXH 2014 thì đơn vị sử dụng lao động có trách nhiệm “Phối hợp với cơ quan BHXH trả sổ BHXH cho người lao động, xác nhận thời gian đóng BHXH khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật.”. Vì vậy, bạn liên hệ với công ty cũ để được xác nhận thời gian đóng BHXH và trả sổ BHXH cho bạn. Trường hợp công ty cũ đã xác nhận thời gian đóng BHXH cho bạn, bạn có thể làm thủ tục cấp lại sổ BHXH tại cơ quan BHXH trên toàn quốc.

Câu 17. Bạn đọc có địa chỉ email nguyen….7386@gmail.com hỏi:

Mấy năm trước em có tham gia BHXH. Sau đó, em nghỉ ngang nên công ty không đóng BHXH nữa, em cũng chưa nhận sổ BHXH. Hiện tại, em vào công ty mới. Bên công ty yêu cầu em cung cấp sổ BHXH. Em có cần liên hệ với công ty cũ lấy sổ BHXH không?

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo quy định tại Khoản 5, Điều 21 Luật BHXH 2014 thì đơn vị sử dụng lao động có trách nhiệm “Phối hợp với cơ quan BHXH trả sổ BHXH cho người lao động, xác nhận thời gian đóng BHXH khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật.” Vì vậy, bạn liên hệ với công ty cũ để nhận sổ BHXH.

Câu 18. Bạn đọc có địa chỉ email womanlion...@yahoo.com hỏi:

Tôi sinh năm 1958, tôi bắt đầu đi làm nhà nước từ năm 1982 với mức lương khởi điểm là 60 đồng. Tôi tiếp tục làm nhà nước đến năm 1994 và có hệ số lương là 2.2. Từ 1995 đến 2001 tôi làm cho tư nhân mức lương 729.000 đ. Từ 2001 đến 2002 mức lương 500.000đ. Tôi đã tham gia BHXH được 20 năm. Năm 2013 khi tròn 55 tuổi tôi đã làm thủ tục nghỉ hưu và đã được nhận sổ hưu. Tuy nhiên tôi đã có thắc mắc về mức lương hưu được hưởng nhưng chưa được giải đáp. Vậy đề nghị các anh chị cho biết mức lương hưu của tôi vào thời điểm tháng 8/2013 là bao nhiêu? Xin cảm ơn các anh chị

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo nội dung câu hỏi, Ông/Bà nghỉ hưu từ năm 2013 nên việc giải quyết chế độ hưu trí được áp dụng quy định của Luật BHXH năm 2006. Tại Khoản 3 Điều 58 Luật BHXH năm 2006 quy định mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH để tính lương hưu đối với người lao động tham gia BHXH trước ngày 01/01/1995, vừa có thời gian đóng BHXH thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH chung của các thời gian; trong đó thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng của 05 năm cuối của khu vực Nhà nước.

Do Ông/Bà chưa cung cấp đủ thông tin về chức danh nghề, công việc cụ thể và diễn biến tiền lương của 05 năm cuối (từ tháng năm đến tháng năm) ở khu vực Nhà nước nên BHXH Việt Nam  chưa có căn cứ để trả lời nội dung Ông/Bà hỏi. Đề nghị Ông/Bà đối chiếu quy định nêu trên, cung cấp thông tin về hồ sơ hưu trí tới BHXH huyện nơi Ông/Bà đang cư trú để được giải đáp cụ thể.

Câu 19. Bạn đọc có địa chỉ email thuongtran…@gmail.com hỏi:

Tôi tham gia BHXH bắt buộc từ tháng 01/2019 đến tháng 07/2019. Đến tháng 08/2019 tôi sinh con. Tôi đã nộp hồ sơ cho cơ quan BHXH để hưởng chế độ thai sản nhưng cơ quan BHXH chưa giải quyết chế độ thai sản cho tôi với lý do công ty chưa đăng ký tham gia đủ BHXH cho người lao động. Tôi xin hỏi trong trường hợp này tôi sẽ được giải quyết vấn đề thai sản khi nào?

BHXH Việt Nam trả lời:

Khoản 2, Khoản 3 Điều 31 Luật BHXH năm 2014 quy định điều kiện hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ sinh con là: Phải đóng BHXH từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc lao động nữ đã đóng BHXH từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng BHXH từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.

Khoản 3 Điều 18 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc quy định: Người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng đủ BHXH, BH thất nghiệp, bao gồm cả tiền lãi chậm đóng theo quy định đối với người lao động đủ điều kiện hưởng BHXH hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc để kịp thời giải quyết chế độ BHXH, BH thất nghiệp cho người lao động.

Đối chiếu với các quy định nêu trên, trường hợp của bạn nếu chưa được giải quyết chế độ thai sản do đơn vị nợ BHXH, bạn có thể yêu cầu đơn vị sử dụng lao động thực hiện đóng đủ BHXH đối với bạn để cơ quan BHXH có căn cứ giải quyết kịp thời chế độ thai sản đối với bạn.

Câu 20. Bạn đọc Phạm Văn Nhân hỏi:

Tôi tham gia BH thất nghiệp được 01 năm 06 tháng thì tôi được hưởng bao nhiêu tháng trợ cấp thất nghiệp? Nộp hồ sơ ở đâu và trong thời hạn bao lâu thì tôi được lĩnh tiền trợ cấp thất nghiệp?

BHXH Việt Nam trả lời:

Tại khoản 2, Điều 50, Luật việc làm 2013 quy định: “Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng”. 

Căn cứ Khoản 1 và điểm a Khoản 2 Điều 18 Nghị định 28/2015/NĐ-CP quy định:

1. Trung tâm dịch vụ việc làm có trách nhiệm xem xét, trình Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp của người lao động trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định, trường hợp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp gửi theo đường bưu điện thì ngày nhận hồ sơ được tính là ngày chuyển đến ghi trên dấu bưu điện.

2. Chi trả trợ cấp thất nghiệp:

a) Tổ chức BHXH thực hiện chi trả trợ cấp thất nghiệp tháng đầu tiên của người lao động trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp;

b) Tổ chức BHXH thực hiện chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động từ tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp thứ 2 trở đi trong thời hạn 05 ngày làm việc, tính từ thời điểm ngày thứ 07 của tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp đó nếu không nhận được quyết định tạm dừng hoặc chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp đối với người lao động. Trường hợp thời điểm ngày thứ 07 nêu trên là ngày nghỉ thì thời hạn chi trả trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày làm việc tiếp theo.

Như vậy, trường hợp của bạn đóng BH thất nghiệp 01 năm 6 tháng thì bạn sẽ được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, số tháng lẻ sẽ được bảo lưu để cộng dồn khi bạn tiếp tục tham gia. Bạn nộp hồ sơ cho trung tâm dịch vụ việc làm tại địa phương nơi bạn muốn nhận trợ cấp thất nghiệp, tối đa trong 25 ngày làm việc kể từ ngày trung tâm dịch vụ việc làm nhận đủ hồ sơ bạn sẽ được nhận tiền trợ cấp thất nghiệp tháng đầu tiên. 

Câu 21. Bạn đọc Khoảng lặng hỏi:

Tôi làm việc và tham gia BHXH bắt buộc tại trường mầm non, hiện tôi đang mang thai dự kiến sinh là tháng 11 năm 2020. Nhưng hiện nay vì dịch bệnh nên trường ngưng đóng BHXH. Tôi muốn hỏi việc ngưng đóng BHXH có ảnh hưởng đến chế độ thai sản của tôi không? Chủ trường của tôi nói nếu tôi muốn hưởng thì phải tự đóng 100% tiền BHXH, BHYT, như vậy có đúng không?

BHXH Việt Nam trả lời:

- Tại  khoản 2, Điều 31 Luật BHXH quy định: “Lao động nữ phải đóng BHXH đủ từ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận con nuôi” thì được hưởng chế độ thai sản.

- Tại Khoản 4 Điều 42 Quyết định 595/QĐ-BHXH quy định:

 “Người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng BHXH tháng đó. Thời gian này không được tính để hưởng BHXH”

Trường hợp của bạn, nếu trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con bạn đóng BHXH đủ từ 6 tháng trở lên thì được hưởng chế độ thai sản. Hiện nay chưa có văn bản nào quy định cho người lao động tự túc đóng tiền tham gia BHXH bắt buộc.

Câu 22. Bạn đọc Vui Pham hỏi:

Tôi tham gia BHXH bắt buộc tại 1 công ty được 4 năm thì tạm ngừng, nay sổ BHXH đã bị mất. Vậy tôi muốn tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện có được không? Mức đóng và phương thức đóng như thế nào?

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo khoản 4, Điều 2, Luật BHXH 2014 quy định: Công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc thì đều có thể tham gia BHXH tự nguyện.

Điều 87, Luật BHXH 2014 quy định mức đóng và phương thức đóng của người lao động tham gia BHXH tự nguyện:

1. Người lao động quy định tại khoản 4 Điều 2 của Luật này, hằng tháng đóng bằng 22% mức thu nhập tháng do người lao động lựa chọn để đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất; mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng BHXH thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn và cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở.

Căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, khả năng ngân sách nhà nước trong từng thời kỳ để quy định mức hỗ trợ, đối tượng hỗ trợ và thời điểm thực hiện chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH cho người lao động tham gia BHXH tự nguyện.

2. Người lao động được chọn một trong các phương thức đóng sau đây:

a) Hằng tháng;

b) 03 tháng một lần;

c) 06 tháng một lần;

d) 12 tháng một lần;

đ) Một lần cho nhiều năm về sau với mức thấp hơn mức đóng hằng tháng hoặc một lần cho những năm còn thiếu với mức cao hơn mức đóng hằng tháng so với quy định tại Điều này.

Đối chiếu với quy định nêu trên, nếu bạn không tiếp tục tham gia BHXH bắt buộc thì có thể tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện. Do sổ BHXH của bạn đã bị mất nên khi đi đăng ký tham gia BHXH tự nguyện bạn phải khai báo số sổ với cơ quan BHXH địa phương để làm thủ tục cấp lại sổ BHXH đồng thời đăng ký tham gia BHXH tự nguyện và đề nghị đóng tiếp vào thời gian đã tham gia BHXH bắt buộc trước đó.

Câu 23. Bạn đọc phamhuyen868@gmail.com hỏi:

1. Tôi là Phạm Thị Thu Huyền; NS 20/01/1987; Nơi ở hiện nay và ĐKTT: Số nhà 302 tổ 37 Thị trấn Đông Anh, Huyện Đông Anh Hà Nội. Mã số BHXH: 0111159043; CMT: 012685577; ĐT: 0978503968 Tôi xin nhờ Quý ban giải đáp giúp tôi vài vấn đề như sau: 1. Sau khi tra cứu thông tin BHXH tôi thấy bị sai thông tin nơi ở. Tôi xin hỏi thông tin đó có ảnh gì khi tôi về hưu không? (Tôi là viên chức giáo dục). Nếu muốn thay đổi thông tin đó thì làm như thế nào?

2. Tôi vào viên chức 01/12/2009, hết tập sự là 01/06/2010. Tôi chuyển trường từ 01/09/2011. Nhưng trên thẻ BHYT ghi là "Thời điểm đủ 05 năm liên tục từ 01/08/2016". Ghi như vậy có đúng không?

BHXH Việt Nam trả lời:

1. Thông tin nơi ở thay đổi không ảnh hưởng đến quá trình tham gia, hưởng BHXH, BHTN của bạn. Tuy nhiên, để điều chỉnh thông tin nơi ở trên cơ sở dữ liệu của cơ quan BHXH, bạn lập Tờ khai tham gia điều chỉnh thông tin BHXH, BHYT (mẫu TK1-TS) nộp thông qua đơn vị hoặc trực tiếp cho cơ quan BHXH để được điều chỉnh.

2. Theo quy định tại Điểm b Khoản 1.9 Điều 3 Quyết định số 1313/QĐBHXH ngày 02/12/2014 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam về việc ban hành mẫu thẻ BHYT quy định: “Trường hợp đã tham gia liên tục từ đủ 05 năm trở lên thì ghi thời điểm đủ 05 năm liên tục như sau: - Những người đã có đủ 05 năm tham gia BHYT liên tục trở lên tính đến ngày 01/01/2015 thì ghi từ ngày 01/01/2015. - Từ ngày 01/01/2015 trở đi, những người tham gia BHYT bắt đầu đủ 05 năm liên tục thì ghi từ ngày đầu tiên của năm thứ 6” Trường hợp của Bạn có thẻ BHYT ghi là "Thời điểm đủ 05 năm liên tục từ 01/08/2016", thì thời gian tham gia BHYT liên tục của Bạn đã được tính kể từ ngày 01/8/2011. Nếu phát hiện thời điểm ghi 5 năm liên tục trên thẻ BHYT chưa đúng, đề nghị bạn liên hệ với đơn vị nơi đang công tác hoặc cơ quan BHXH nơi cấp thẻ để được hướng dẫn và đổi thẻ theo quy định.

Câu 24. Bạn đọc có địa chỉ email diep.pham.thi.hong@247post.vn hỏi:

Tôi muốn hỏi trường hợp nhân viên nghỉ việc không đến nhận sổ BHXH, đơn vị sử dụng lao động có được trả sổ BHXH của nhân viên đó cho cơ quan BHXH quận lưu trữ không? Nếu được thì xin hướng dẫn các thủ tục cho đơn vị làm.

BHXH Việt Nam trả lời:

Hiện nay, BHXH Việt Nam không quy định việc lưu trữ sổ BHXH của người lao động do nghỉ việc không nhận sổ BHXH. Vì vậy, bạn liên hệ với người lao động đến nhận sổ BHXH.

Câu 25. Bạn đọc có địa chỉ email lamoanh…@gmail.com hỏi:

Tôi có tham gia BHYT: Giá trị sử dụng: 06/05/2018 Thời điểm đủ 5 năm liên tục: 06/05/2023 Tôi có biết nếu quá hạn 3 tháng không tham gia tiếp thì thẻ sẽ không được gia hạn. Bản thân tôi cũng có bệnh đang điều trị tại bệnh viện (có sử dụng thẻ BHYT trong suốt quá trình tái khám) nên tôi đã mua gia hạn liên tiếp không trễ hạn. Đến năm nay đến hạn mua cơ quan BHXH cấp cho tôi 1 thẻ khác (bổ sung thêm ngày tháng sinh). Tôi được nhân viên bán BH tư vấn là cấp lại thẻ bổ sung ngày tháng sinh theo quy định mới, nhưng vẫn gia hạn thẻ bình thường. Vậy tôi muốn hỏi tại sao hiện tại tôi nhận thẻ thì số năm đủ thời hạn 5 năm của tôi bị tăng thêm 1 năm (Có nghĩa là không gia hạn cho tôi mà lại tính thành 1 thẻ mới).

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 12 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP ngày 17/10/2018 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật BHYT thì “Thời gian tham gia BHYT liên tục là thời gian sử dụng ghi trên thẻ BHYT lần sau nối tiếp lần trước; trường hợp gián đoạn tối đa không quá 3 tháng”. Trường hợp của Bạn (theo nội dung câu hỏi) có kết quả tra cứu quá trình tham gia BHYT bằng mã số thẻ GD4949422366235 trên phần mềm quản lý Thu, Sổ-Thẻ như sau:

- Bạn đã tham gia liên tục từ ngày 06/05/2018 đến ngày 05/08/2018, nhưng từ ngày 06/8/2018 đến ngày 03/04/2019 thì ngừng tham gia, đóng BHYT.

- Sau đó, từ ngày 04/04/2019 đến ngày 03/04/2021 đã tiếp tục tham gia lại. Như vậy, quá trình tham gia, đóng BHYT của Bạn bị gián đoạn từ ngày 06/8/2018 đến ngày 03/04/2019 (đã gián đoạn quá 03 tháng).

Vì vậy, thẻ BHYT mới của Bạn in thời điểm tham gia BHYT đủ 05 năm liên tục: từ ngày 04/04/2024 là đúng quy định hiện hành.

Câu 26. Bạn đọc thanhnhan…@gmail.com hỏi:

Em đóng bảo hiểm được 2 năm 9 tháng nhưng trong sổ BHXH chốt chỉ được 2 năm 6 tháng nên em không lấy được BH thất nghiệp. Em ở Nghệ An và do BHXH Nghệ An chốt sổ. Nhưng hiện tại em đang ở Hà Nội và muốn sửa sổ ở ngoài Hà Nội này được không? Và em có thể đi sửa sổ tại Hà Nội được không?

BHXH Việt Nam trả lời:

Đề nghị bạn cung cấp thông tin như mã số BHXH, họ tên, ngày tháng năm sinh…để cơ quan BHXH kiểm tra xác minh. Trường hợp BHXH Nghệ An xác nhận quá trình tham gia BH thất nghiệp sai cho bạn, đề nghị bạn liên hệ với BHXH Nghệ An để được xác nhận lại quá trình tham gia BHXH cho bạn.

Câu 27. Bạn đọc có địa chỉ email ngocsuong…@gmail.com hỏi:

Tôi tham gia BHXH từ 9/2005 đến năm 2020 hơn 15 năm, khi tôi tra cứu trên hệ thống BHXH huyện Đức Hòa mới tham gia được 14 năm 8 tháng. Vậy tôi muốn hỏi trường hợp của tôi tại sao bị thiếu thời gian đóng BHXH. Kính mong BHXH Đức Hòa bổ sung giúp tôi (số sổ BHXH 4806003386).

BHXH Việt Nam trả lời:

Qua thông tin mà bạn cung cấp, cơ quan BHXH tra cứu quá trình tham gia BHXH của bạn là 14 năm 9 tháng. Trường hợp năm 2015 bạn có tham gia BHXH, BH thất nghiệp, đề nghị bạn lập Tờ khai tham gia, điều chỉnh thông tin BHXH, BHYT (Mẫu TK1) kèm theo giấy tờ chứng minh thời gian công tác có đóng BHXH còn ghi thiếu trên sổ BHXH gửi BHXH huyện Đức Hòa để được bổ sung.

Câu 28. Bạn đọc tuapro1@gmail.com hỏi:

Tôi muốn hỏi từ khi nộp hồ sơ xin lại tờ rời tới lúc nhận được là bao lâu?

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 29 Quy trình ban hành kèm theo Quyết định số 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017 của BHXH Việt Nam thì: thời gian cấp lại tờ rời sổ BHXH do mất, hỏng không quá 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định.

Câu 29. Bạn đọc misudidu@gmail.com hỏi:

Tôi tham gia BHXH từ tháng 11/2015 nhưng đến nay trong sổ của tôi chỉ có sao kê đến tháng 12/2016. Nay vì lí do nghề nghiệp, tôi cần chứng minh mình đã tham gia BHXH liên tục đến nay thì tôi phải làm gì? Tôi đã đến trung tâm BHXH địa phương (thành phố Đà Lạt) để yêu cầu sao kê, nhưng được yêu cầu phải có đơn yêu cầu của cơ quan, nhưng tôi đã nghỉ việc nhưng vẫn tiếp tục tự đóng BHXH, tôi phải làm gì?

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo quy định tại Khoản 7, Điều 18 Luật BHXH số 58/2014/QH13 thì người lao động có quyền: “Định kỳ 06 tháng được người sử dụng lao động cung cấp thông tin về đóng BHXH; định kỳ hằng năm được cơ quan BHXH xác nhận về việc đóng BHXH; được yêu cầu người sử dụng lao động và cơ quan BHXH cung cấp thông tin về việc đóng, hưởng BHXH”. Vì vậy, bạn đề nghị phía công ty hoặc cơ quan BHXH cung cấp thông tin về việc đóng BHXH cho bạn. Ngoài ra, hiện nay, người tham gia BHXH có thể tự tra cứu quá trình tham gia BHXH của mình qua các cách sau: Truy cập vào địa chỉ http://baohiemxahoi.gov.vn à Tra cứu trực tuyến à Tra cứu quá trình tham gia BHXH; Soạn tin nhắn theo cú pháp TC BHXH [Mã số BHXH] gửi 8079 để tra cứu thời gian đóng BHXH; Gọi tổng đài 1900 90 68 để được hỗ trợ.

Câu 30. Bạn đọc thuongtran…@gmail.com hỏi:

Tôi tham gia BHXH bắt buộc từ tháng 01/2019 đến tháng 07/2019. Đến tháng 08/2019 tôi sinh con. Tôi đã nộp hồ sơ cho cơ quan BHXH để hưởng chế độ thai sản nhưng cơ quan BHXH chưa giải quyết chế độ thai sản cho tôi với lý do công ty chưa đăng ký tham gia đủ BHXH cho người lao động. Tôi xin hỏi trong trường hợp này tôi sẽ được giải quyết vấn đề thai sản khi nào?

BHXH Việt Nam trả lời:

Khoản 2, Khoản 3 Điều 31 Luật BHXH năm 2014 quy định điều kiện hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ sinh con là: Phải đóng BHXH từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc lao động nữ đã đóng BHXH từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng BHXH từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.

Khoản 3 Điều 18 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc quy định: Người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng đủ BHXH, BH thất nghiệp, bao gồm cả tiền lãi chậm đóng theo quy định đối với người lao động đủ điều kiện hưởng BHXH hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc để kịp thời giải quyết chế độ BHXH, BH thất nghiệp cho người lao động.

Đối chiếu với các quy định nêu trên, trường hợp của Bạn nếu chưa được giải quyết chế độ thai sản do đơn vị nợ BHXH, Bạn có thể yêu cầu đơn vị sử dụng lao động thực hiện đóng đủ BHXH đối với Bạn để cơ quan BHXH có căn cứ giải quyết kịp thời chế độ thai sản đối với Bạn.

Câu 31. Bạn đọc có địa chỉ email vudanghoang…@gmail.com hỏi:

Tôi tham gia BHXH bắt buộc từ năm 2017. Tháng 8/2019 vợ tôi sinh con thì tôi được hưởng chế độ thai sản như thế nào? (Hiện tại là 01/2020 tôi vẫn chưa nhận được trợ cấp thai sản)

BHXH Việt Nam trả lời:

Khoản 2 Điều 34 Luật BHXH quy định lao động nam đang đóng BHXH  khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con: 05 ngày làm việc đối với trường hợp sinh thường; 07 ngày làm việc khi vợ sinh con phải phẫu thuật, sinh con dưới 32 tuần tuổi; 10 ngày khi vợ sinh đôi, từ sinh ba trở lên thì cứ thêm mỗi con được nghỉ thêm 03 ngày làm việc, 14 ngày đối với trường hợp sinh đôi trở lên phải phẫu thuật. Mức hưởng một ngày được tính bằng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của 06 tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản chia cho 24 ngày. Do đó, nếu Bạn đang tham gia BHXH thì khi vợ sinh con bạn được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định nêu trên. Trường hợp bạn không nghỉ việc thì không được hưởng chế độ thai sản khi vợ sinh con.

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 38 Luật BHXH; Khoản 2 Điều 9 Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2017 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc; Tiết c Điểm 2 Công văn số 3432/LĐTBHXH-BHXH ngày 08/9/2016 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định nội dung: Trường hợp sinh con nhưng người mẹ không đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản hoặc chỉ có cha tham gia BHXH và cha đóng BHXH từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi vợ sinh con thì cha được trợ cấp một lần bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng sinh cho mỗi con.

Do thông tin Bạn cung cấp không đầy đủ, đề nghị bạn đối chiếu với quy định trên để xác định điều kiện hưởng chế độ thai sản khi vợ sinh con cho trường hợp cụ thể của mình.

Về quy trình giải quyết chế độ ốm đau, thai sản được quy định tại Điều 102 Luật BHXH, do Bạn không nêu rõ Bạn đã nộp hồ sơ cho đơn vị Bạn để lập hồ sơ chuyển đến cơ quan BHXH hay chưa nên để biết thông tin về việc giải quyết chế độ thai sản đối với Bạn, đề nghị Bạn liên hệ bộ phận làm công tác lập hồ sơ giải quyết chế độ BHXH của đơn vị nơi Bạn đang công tác để được giải đáp.

Câu 32. Bạn đọc có địa chỉ email quanglien…@gmail.com hỏi:

Tôi nhập ngũ 6/1982, phục viên về địa phương tháng 12/1996; từ năm 1985 đến 1989 tôi chiến đấu ở chiến trường K. Hiện tôi đang là cán bộ xã và tham gia BHXH bắt buộc từ năm 2007 đến nay; tôi chưa nhận chế độ nghỉ một lần theo quyết định 62/TTg của Thủ tướng chính phủ. Xin hỏi trường hợp tôi có được cộng dồn thời gian công tác trong quân đội vào thời gian đóng BHXH hiện nay để được tính thời gian nghỉ hưu không?

BHXH Việt Nam trả lời:

Với thông tin Ông cung cấp, nếu Ông có đầy đủ hồ sơ thể hiện thời gian công tác từ tháng 6/1982 đến tháng 12/1996 và thời gian này Ông chưa hưởng trợ cấp phục viên, xuất ngũ, chưa hưởng chế độ trợ cấp theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 09/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ thì được cộng nối với thời gian công tác có đóng BHXH sau này để tính hưởng chế độ BHXH.

Câu 33. Bạn đọc có địa chỉ email giangnht…@gmail.com.vn hỏi:

Tôi đi làm cho công ty cũ từ tháng 6/2017 đến tháng 3/2019, tôi có được công ty cũ trích tiền lương để đóng các khoản BHXH, BHYT, BH thất nghiệp, nhưng đến tháng 3/2019 tôi xin nghỉ việc tại công ty cũ, nhưng tôi không làm thủ tục để xin nhận BH thất nghiệp. Hiện tại tôi đã đi làm ở cơ quan mới và có tham gia BHXH từ 15/12/2019. Vậy cho tôi hỏi bây giờ tôi có thể làm thủ tục nhận số tiền thất nghiệp mình đã tham gia ở cơ quan cũ hay không, và nếu không nhận được thì số tiền tôi đã đóng ở cơ quan cũ có được cộng dồn vào ở cơ quan mới hay không? Còn nếu được nhận lại thì tôi sẽ nhận lại bao nhiêu và thủ tục tôi cần làm là gì và nộp cho cơ quan nào để được giải quyết số tiền đó. Tôi mong cơ quan BHXH giải đáp giúp tôi. Chân thành cám ơn!

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo quy định tại Khoản 3, Khoản 4 Điều 49 Luật Việc làm về 2 trong những điều kiện người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp (TCTN) là người lao động đã nộp hồ sơ hưởng TCTN tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật Việc làm (trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc); chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng BH thất nghiệp.

Trường hợp của Bạn đã quá hạn nộp hồ sơ hưởng BH thất nghiệp, đồng thời hiện tại Bạn đã có việc làm và tham gia BHXH, do đó Bạn không đủ điều kiện hưởng TCTN cho thời gian tham gia BHXH, BH thất nghiệp ở đơn vị cũ. Thời gian tham gia BHXH, BH thất nghiệp tại đơn vị cũ của Bạn sẽ được bảo lưu, cộng dồn với thời gian tham gia đóng BH thất nghiệp sau này để làm căn cứ tính hưởng BH thất nghiệp khi Bạn đủ điều kiện hưởng theo quy định.

Câu 34. Bạn đọc có địa chỉ email dung...87@gmail.com hỏi:

Theo em được biết muốn hưởng chế độ thai sản sau sinh thủ tục cần nộp cho cơ quan BHXH gồm: giấy chứng sinh (hoặc photocopy giấy khai sinh của con) nhưng bên công ty em yêu cầu phải đủ 5 giấy siêu âm có dấu đỏ bệnh viện? Cho hỏi như vậy có đúng không?

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 101 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 hồ sơ hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ sinh con gồm có:

a) Bản sao giấy khai sinh hoặc bản sao giấy chứng sinh của con;

b) Bản sao giấy chứng tử của con trong trường hợp con chết, bản sao giấy chứng tử của mẹ trong trường hợp sau khi sinh con mà mẹ chết;

c) Giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về tình trạng người mẹ sau khi sinh con mà không còn đủ sức khỏe để chăm sóc con;

d) Trích sao hồ sơ bệnh án hoặc giấy ra viện của người mẹ trong trường hợp con chết sau khi sinh mà chưa được cấp giấy chứng sinh;

đ) Giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc lao động nữ phải nghỉ việc để dưỡng thai đối với trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 31 của Luật này.

Đối chiếu quy định nêu trên, trường hợp công ty của Bạn yêu cầu Bạn cung cấp thêm 05 giấy siêu âm có dấu đỏ của bệnh viện trong hồ sơ hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ sinh con là không đúng quy định, đề nghị Bạn phản ánh lại với Công ty của Bạn để được thực hiện đúng quy định.

Câu 35. Bạn đọc có địa chỉ email duythuong...@gmail.com hỏi:

Tôi tên là Giáp Văn Thưởng; HKTT: Bảo Đài, Lục Nam, Bắc Giang; mã số BHXH 2421781373. Từ năm 2004 đến năm 2007 tôi làm việc tại 3 công ty và mỗi công ty làm tầm từ 4 đến 5 tháng. Tôi không lấy sổ BHXH và tôi không nhớ công ty nào đóng BHXH cho mình. Đến nay tôi xin đi làm tại một công ty ở KCN Song Khê, Bắc Giang, tôi làm được hơn một tháng thì công ty báo tôi đã có sổ BHXH và yêu cầu lấy sổ nộp cho công ty. Vậy có cách nào để tôi có thể tìm được sổ BHXH đã đóng 16 năm không?

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo quy định tại Khoản 5, Điều 21 Luật BHXH 2014 thì người sử dụng lao động có trách nhiệm “ Phối hợp với cơ quan BHXH trả sổ BHXH cho người lao động, xác nhận thời gian đóng BHXH khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật”. Vì vậy, bạn liên hệ với công ty cũ trước đây để nhận lại sổ BHXH. Với thông tin mà bạn cung cấp, cơ quan BHXH mới chỉ tra cứu được quá trình đóng BHXH tại Bắc Giang, không thấy thông tin tham gia ở các đơn vị trước đây. Vì vậy, bạn cung cấp thêm một số các thông tin như họ tên, số chứng minh nhân dân, ngày tháng năm sinh…để cơ quan BHXH hỗ trợ bạn tra cứu. Ngoài ra, bạn có thể tự tra cứu quá trình tham gia BHXH bằng các cách sau: Truy cập vào địa chỉ http://baohiemxahoi.gov.vn à Tra cứu trực tuyến à Tra cứu quá trình tham gia BHXH; Soạn tin nhắn theo cú pháp TC BHXH [Mã số BHXH] gửi 8079 để tra cứu thời gian đóng BHXH; Gọi tổng đài 1900 90 68 để được hỗ trợ.

Câu 36. Bạn đọc hongngoctn...@gmail.com hỏi:

Thông tin địa chỉ trường trú của tôi đã xác nhập thành tổ mới có phải đi khai lại thông tin từ đầu không?

BHXH Việt Nam trả lời:

Để cập nhật thông tin địa chỉ thường trú, bạn lập Tờ khai tham gia, điều chỉnh thông tin BHXH, BHYT (Mẫu TK1-TS) nộp cơ quan BHXH để được cập nhật trên cơ sở dữ liệu (cơ quan BHXH không quy định bắt buộc người tham gia phải khai lại thông tin địa chỉ thường trú).

Câu 37. Bạn đọc có địa chỉ email levan…1112@gmail.com hỏi:

Tôi nghỉ việc từ 01/09/2019 và đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp, theo QĐ tôi được hưởng trợ cấp từ ngày 02/12/2019 và BHYT do bên trung tâm trợ cấp thất nghiệp đóng hiệu lực từ ngày 02/12/2019 sẽ có hiệu lực đủ 5 năm liên tục vào 02/12/2024 (theo BHYT cũ do công ty đóng sẽ đủ 5 năm liên tục vào 01/01/2020, vì tôi nghỉ việc nên đã ngưng đóng từ 01/09/2019). Tại sao thời hạn đóng BHYT 5 năm liên tục của tôi bị tính lại từ đầu, trong khi đó tôi đã nộp hồ sơ trợ cấp thất nghiệp vẫn trong thời hạn 3 tháng từ ngày nghỉ việc? Trong thời gian nộp hồ sơ trợ cấp thất nghiệp, tôi có liên hệ mua BHYT tự nguyện tại phường, nhưng được trả lời sẽ có BHYT trong thời gian tôi được hưởng trợ cấp nên đợi hết hạn BHYT đó mới mua tiếp vì nếu mua bây giờ thì khi BHYT diện thất nghiệp được phát hành thì BHYT tự mua cũng bị hủy. Vậy vì lý do chồng chéo các bên và thời gian chờ giải quyết hồ sơ bên trợ cấp thất nghiệp mà thời gian đóng BHYT liên tục của tôi bị hủy trong khi đó tôi đã đóng liên tục gần đủ thời hạn 5 năm.

BHXH Việt Nam trả lời:

Căn cứ quy định tại Khoản 5 Điều 12 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP ngày 17/10/2018 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số Điều của Luật BHYT thì “Người lao động trong thời gian làm thủ tục chờ hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp theo quy định của Luật việc làm thì thời gian đã tham gia BHYT trước đó được tính là thời gian đã tham gia BHYT”. Như vậy, trường hợp của Bạn bị gián đoạn thời gian tham gia BHYT do chờ hưởng trợ cấp thất nghiệp, nên thời gian đã tham gia trước đó vẫn được tính là thời gian tham gia BHYT liên tục. Để điều chỉnh thời điểm đủ 05 năm liên tục in trên thẻ, Bạn có thể liên hệ trực tiếp với cơ quan BHXH nơi cấp thẻ BHYT để được hướng dẫn, giải quyết theo quy định.

Câu 38. Bạn đọc phuong…1511@gmail.com hỏi:

Em tham gia BHYT từ nhỏ đến năm 2015 tham gia BHYT theo diện hộ nghèo, từ năm 2017 trở đi tham gia BHYT tại trường là sinh viên. Em có kiểm tra trên link https://baohiemxahoi.gov.vn và được biết thời điểm tham gia BHYT đủ 5 năm liên tục là 01/04/2022. Nay học xong ra trường, bắt đầu tham gia BHYT theo hộ gia đình từ ngày 01/03/2020 đến 28/02/2021. Vậy phải tính từ thời điểm này lại từ đầu để tham gia BHYT 5 năm liên tục hay vẫn tính từ năm 2017 đến 2022 như trên thì tham gia đủ 5 năm liên tục?

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 12 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP ngày 17/10/2018 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật BHYT thì “Thời gian tham gia BHYT liên tục là thời gian sử dụng ghi trên thẻ BHYT lần sau nối tiếp lần trước; trường hợp gián đoạn tối đa không quá 3 tháng”. Đồng thời, ngày 22/11/2018 BHXH Việt Nam cũng có Công văn số 238/BHXH-CNTT hướng dẫn việc cấp đổi thẻ BHYT có sai sót thông tin về thời gian tham gia liên tục, cụ thể: cơ quan BHXH “Thực hiện việc đổi thẻ BHYT ngay trong ngày làm việc khi đơn vị quản lý đối tượng hoặc người tham gia BHYT đến làm thủ tục cấp đổi thẻ BHYT do sai thông tin về thời gian tham gia BHYT”. Trường hợp của Bạn (theo nội dung câu hỏi) sau khi tra cứu quá trình tham gia BHYT trên phần mềm quản lý Thu, Sổ-Thẻ cho kết quả như sau:

- Số thẻ SV4740600500109 có thời hạn sử dụng từ ngày 01/04/2017 đến ngày 31/12/2017.

- Số thẻ SV4747424481831 có thời hạn sử dụng từ ngày 01/01/2018 đến ngày 01/01/2019 đến ngày 31/12/2019.

- Số thẻ GD4707424481831 có thời hạn sử dụng từ ngày 01/03/2020 đến ngày 28/02/2021. Như vậy, quá trình tham gia BHYT của Bạn (tính từ ngày 01/04/2017 đến nay) chưa bị gián đoạn quá 03 tháng, nên thẻ BHYT mới (có mã số GD4707424481831) sẽ được in thời điểm đủ 05 năm liên tục từ ngày 01/04/2022 (giữ nguyên như các thẻ BHYT đã cấp trước đó). Trường hợp phát hiện có sai sót, Bạn có thể liên hệ trực tiếp với cơ quan BHXH nơi cấp thẻ BHYT để được hướng dẫn, giải quyết theo quy định.

Câu 39. Bạn đọc Nguyễn Văn Hộ hỏi:

Em tham gia BHXH từ tháng 5/2011 đến tháng 12/2019, Chứng minh nhân dân của em chỉ có năm sinh không có ngày tháng, vậy có đủ điều kiện để hưởng BH thất nghiệp hay không? Và nếu không đủ phải chỉnh sửa chứng minh thế nào cho hợp lệ?

BHXH Việt Nam trả lời:

Tại Điều 49 Luật Việc làm quy định điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp (TCTN): Người lao động đang đóng BH thất nghiệp được hưởng TCTN khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

2. Đã đóng BH thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp làm việc theo Hợp đồng lao động; hợp đồng làm việc xác định thời hạn hoặc không xác định thời hạn; đã đóng BH thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp làm việc theo Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng.

3. Đã nộp hồ sơ hưởng TCTN tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật Việc làm (cụ thể trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc).

4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng BH thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;

đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

e) Chết.

Trường hợp của Bạn nếu đủ điều kiện theo quy định nêu trên thì được giải quyết hưởng TCTN. Tuy nhiên, khi Bạn nhận quyết định hưởng TCTN Bạn phải cung cấp Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu để xác định Bạn là người có tên trên quyết định hưởng TCTN, trường hợp Chứng minh nhân dân chỉ có năm sinh mà trên quyết định hưởng TCTN có cả ngày tháng sinh thì bạn cần mang theo giấy tờ tùy thân khác có ảnh thể hiện ngày tháng năm sinh như trên quyết định hưởng TCTN.

Câu 40. Bạn đọc có địa chỉ email lengochuyen…@gmail.com hỏi:

Tháng 5 công ty làm việc chế độ nghỉ Chủ nhật hàng tuần, như vậy tháng 5 có 26 ngày công. Nếu nhân viên nghỉ đến ngày 15/5, 16/5 đi làm. Vậy là nhân viên nghỉ 13 ngày và đi làm 13 ngày. Theo quy định nếu lao động nghỉ không hưởng lương trên 14 ngày thì không đóng bảo hiểm. Vậy nhân viên ở đây không hưởng lương 13 ngày vẫn được đóng bảo hiểm. Nhưng theo một số lý giải là làm việc không đủ 14 ngày thì báo giảm không lương. Vậy bạn này làm việc có 13 ngày, không được đóng bảo hiểm. Nhờ đơn vị giải thích giúp em trường hợp này được không?

BHXH Việt Nam trả lời:

Căn cứ tại Quy định Khoản 3 Điều 85 Luật BHXH năm 2014, người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng BHXH tháng đó; thời gian này không được tính để hưởng BHXH trừ trường hợp nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.

Do đó, người lao động của công ty bạn nghỉ việc không hưởng lương 13 ngày làm việc thì vẫn thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc.

Câu 41. Bạn đọc có địa chỉ email nguyenthu1090@gmail.com hỏi:

Tôi tham gia BHXH ở 1 Công ty từ tháng 6/2019 đến tháng 7/2020 thì tôi dự định xin nghỉ việc (thời gian tham gia từ tháng 6/2019 đến tháng 7/2020). Hiện tôi đang có thai và dự sinh vào tháng 1/2021. Trong thời gian tham gia BHXH thì công ty tôi có tạm ngưng không đóng BHXH cho nhân viên vì Covid (nghỉ không lương) từ tháng 4/2020 đến tháng 6/2020, và dự kiến tháng 7/2020 sẽ đóng lại. Trong thời gian tham gia từ tháng 6/2019 đến tháng 7/2020 tôi bị gián đoạn 3 tháng không tham gia BHXH từ phía công ty vì dịch Covid-19. Như vậy, tôi có được hưởng bảo hiểm thai sản không?

BHXH Việt Nam trả lời:

- Khoản 2, khoản 3 Điều 31 Luật BHXH năm 2014 quy định điều kiện hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ sinh con là: Phải đóng BHXH từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc lao động nữ đã đóng BHXH từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng BHXH từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.

- Trường hợp Công ty Bạn thuộc đối tượng tạm dừng đóng BHXH vào quỹ hưu trí, tử tuất do ảnh hưởng của dịch Covid-19:

Thực hiện Chỉ thị số 11/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch Covid-19, ngày 17/3/2020, BHXH Việt Nam có
Công văn số 860/BHXH-BT hướng dẫn thực hiện tạm dừng đóng BHXH vào qũy hưu trí, tử tuất đối với các đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 đến hết tháng 6 hoặc tháng 12/2020 và không tính lãi phạt chậm nộp theo thẩm quyền quy định của pháp luật. Theo đó:

+ Về đối tượng được tạm dừng: Là các doanh nghiệp thuộc các ngành nghề dịch vụ vận tải hành khách, du lịch, lưu trú, nhà hàng và các ngành nghề đặc biệt khác gặp khó khăn do dịch bệnh gây ra, dẫn đến không bố trí được việc làm cho người lao động, trong đó số lao động thuộc diện tham gia BHXH phải tạm thời nghỉ việc từ 50% tổng số lao động có mặt trước khi tạm dừng sản xuất, kinh doanh trở lên, hoặc bị thiệt hại trên 50% tổng giá trị tài sản do dịch bệnh gây ra (không kể giá trị tài sản là đất) theo quy định tại Khoản 1 Điều 88 Luật BHXH năm 2014; các Khoản 1, 2, 3 và Điều 16 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 của Chính phủ và Điều 28 Thông tư số 59/2015/TTBLĐTBXH ngày 29/12/2015 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

+ Trong thời gian tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất, doanh nghiệpvẫn phải đóng đầy đủ, kịp thời vào quỹ ốm đau, thai sản, quỹ tai nạn lao động, 71 bệnh nghề nghiệp, quỹ bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp để đảm bảo quyền lợi đối với người lao động.

Nếu đơn vị Bạn làm việc thuộc đối tượng được tạm đừng đóng BHXH theo quy định nêu trên thì Bạn vẫn được đảm bảo quyền lợi về đóng BHXH để hưởng chế độ thai sản khi sinh con.

- Trường hợp Công ty Bạn không thuộc đối tượng tạm dừng đóng BHXH vào quỹ hưu trí tử tuất:

Khoản 3 Điều 85 Luật BHXH quy định: “Người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng bảo hiểm xã hội tháng đó. Thời gian này không được tính để hưởng bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp nghỉ việc hưởng chế độ thai sản”.

Trường hợp của Bạn Công ty cho Bạn nghỉ việc do dịch bệnh Covid-19, nếu Công ty vẫn trả lương ngừng việc cho những ngày nghỉ thì vẫn phải đóng bảo hiểm xã hội như bình thường, vì những ngày nghỉ này người lao động có hưởng lương ở công ty (chỉ là có thể ở mức thấp hơn). Nếu Công ty thỏa thuận với người lao động những ngày nghỉ này là ngày nghỉ không hưởng lương, số ngày nghỉ không hưởng lương từ 14 ngày làm việc trở lên thì tháng đó người sử dụng lao động và người lao động không phải đóng BHXH. 

Trường hợp cụ thể đối với Bạn, nếu sinh con vào tháng 1/2021 và Công ty đóng BHXH cho Bạn trở lại vào tháng 7/2020 đến tháng 12/2020 thì trong thời gian 12 tháng trước khi sinh (từ tháng 1/2020 đến tháng 12/2020) Bạn có ít nhất 9 tháng đóng BHXH (từ tháng 1/2020 đến tháng 3/2020 và từ tháng 7/2020 đến tháng 12/2020), Bạn đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản khi sinh con.

Câu 42. Bạn đọc có địa chỉ email ketoanserim@gmail.com hỏi:

Người lao động trong thời gian nghỉ thai sản đến tháng 4 công ty chấm dứt hợp đồng lao động. Sau đó, tháng 5 công ty mới báo giảm, cơ quan bảo hiểm chấp nhận hồ sơ và xử lý thành công. Như vậy công ty có bị truy thu BHYT của người lao động đang trong thời gian nghỉ thai sản của tháng 4 không?

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo nội dung bạn hỏi thì bạn nghỉ hưởng chế độ thai sản đến hết 31/3, tháng 4 công ty chấm dứt hợp đồng và báo giảm đóng từ tháng 5.

Tại tiết a, điểm 2.1 khoản 2 Điều 50 Quy trình thu BHXH, BHYT, BHTN, Bảo hiểm TNLĐ- BNN; quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT ban hành kèm theo Quyết định số 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam thì trường hợp đơn vị lập danh sách báo giảm chậm, đơn vị phải đóng số tiền  BHYT của các tháng báo giảm chậm và thẻ BHYT có giá trị sử dụng đến hết các tháng đó. Do đó, trường hợp bạn hỏi phải đóng BHYT tháng 4 là đúng theo quy định.

Câu 43. Bạn đọc có địa chỉ email huynhtttrinh99@gmail.com hỏi:

Tôi là sinh viên có tham gia BHYT và đóng phí mỗi đầu năm học mới. Nhưng mà giai đoạn vừa qua tôi xảy ra vấn đề và tôi quên mất hạn nộp bảo hiểm. Bây giờ BHYT tôi đã hết hạn khoảng 5-6 tháng rồi. Bây giờ muốn tham gia tiếp BHYT thì tôi phải làm thế nào ạ?

BHXH Việt Nam trả lời:

Tại khoản 2 Điều 11 nghị định số 146/2018/NĐ-CP ngày 17/10/2018 của Chính phủ quy định và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật BHYT quy định cơ sở giáo dục có trách nhiệm lập danh sách tham gia BHYT của đối tượng học sinh, sinh viên.

Do đó, để tiếp tục tham gia BHYT, bạn đăng ký lại với nhà trường nơi bạn theo học để lập danh sách bổ sung tham gia BHYT của đối tượng học sinh, sinh viên; nộp danh sách, tiền đóng BHYT cho cơ quan BHXH để được cấp thẻ BHYT.

Câu 44. Bạn đọc có địa chỉ email besuong...@gmail.com hỏi:

Tôi đã nghỉ việc từ ngày 31/12/2019. Do lý do gia đình, đến cuối tháng 3 tôi mới trở lại TP HCM làm thủ tục nhận BH thất nghiệp. Nhưng do ảnh hưởng của Covid, Quý cơ quan đã tạm thời đóng cửa nên tôi vẫn chưa nộp được hồ sơ. Hiện tại, tôi có thể nộp hồ sơ xin nhận trợ cấp BH thất nghiệp được không? Do ảnh hưởng sau Covid, tôi vẫn chưa tìm được việc mới và rất khó khăn, mong quý cơ quan xem xét.

BHXH Việt Nam trả lời:

Điều 46 Luật Việc làm quy định trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp thì nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại Trung tâm dịch vụ việc làm tại địa phương nơi người lao động muốn nhận trợ cấp thất nghiệp.

Trường hợp của Bạn đã chấm dứt hợp đồng lao động từ 31/12/2019, nên đến nay đã quá thời hạn 3 tháng (quá thời hạn nộp hồ sơ theo quy định trên) nên Bạn không thuộc đối tượng để giải quyết trợ cấp thất nghiệp lần này. Thời gian Bạn đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp nhưng chưa được hưởng trợ cấp thất nghiệp sẽ được bảo lưu và tính hưởng bảo hiểm thất nghiệp lần sau.

Câu 45. Bạn đọc có địa chỉ email quyenhuynh…@gmail.com hỏi:

Cho tôi hỏi người lao động được hưởng các chế độ gì sau khi nghỉ việc và điều kiện hưởng cần các giấy tờ thủ tục gì?

BHXH Việt Nam trả lời:

Sau khi nghỉ việc nếu đủ điều kiện theo quy định của Luật việc làm Bạn có thể được hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) (bao gồm: trợ cấp thất nghiệp (TCTN), hỗ trợ học nghề).

a. Điều kiện hưởng

- Điều kiện hưởng đối với người lao động đang đóng BHTN theo quy định tại Điều 49 và Điều 55 Luật Việc làm, cụ thể như sau:

1. Chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) hoặc hợp đồng làm việc (HĐLV) đúng quy định của pháp luật, trừ trường hợp hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng.

2. Đã nộp hồ sơ hưởng TCTN tại Trung tâm dịch vụ việc làm trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt HĐLĐ, HĐLV.

3. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng BHTN, trừ các trường hợp sau: Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an; Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên; Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù; Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng; Chết.

 4. Đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt HĐLĐ hoặc HĐLV đối với trường hợp làm việc theo HĐLĐ, HĐLV từ 12 tháng trở lên; đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt HĐLĐ đối với trường hợp làm việc theo HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định (đối với trường hợp hưởng TCTN).

  - Đã đóng BHTN từ đủ 09 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt HĐLĐ hoặc HĐLV theo quy định (đối với trường hợp hỗ trợ học nghề).

 b. Thủ tục hồ sơ

- Hồ sơ hưởng TCTN: Theo quy định tại Điều 16, Nghị định 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ bao gồm:

1. Đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định.

2. Bản chính hoặc bản sao có chứng thực của một trong các giấy tờ sau đây xác nhận về việc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc:

a) Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã hết hạn hoặc đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Quyết định thôi việc;

c) Quyết định sa thải;

d) Quyết định kỷ luật buộc thôi việc;

đ) Thông báo hoặc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

Trường hợp người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 43 Luật Việc làm thì giấy tờ xác nhận về việc chấm dứt hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng là bản chính hoặc bản sao có chứng thực của hợp đồng đó.

3. Sổ BHXH.

- Hồ sơ đề nghị hỗ trợ học nghề: Theo quy định tại Điều 24 Nghị định 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ bao gồm:

1. Hồ sơ đề nghị hỗ trợ học nghề đối với người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp:

Đề nghị hỗ trợ học nghề theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định.

2. Hồ sơ đề nghị hỗ trợ học nghề đối với người thất nghiệp có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 09 tháng trở lên nhưng không thuộc diện hưởng trợ cấp thất nghiệp:

a) Đề nghị hỗ trợ học nghề theo quy định;

b) Bản chính hoặc bản sao có chứng thực của một trong các giấy tờ sau đây xác nhận về việc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc:

- Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã hết hạn hoặc đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

- Quyết định thôi việc;

- Quyết định sa thải;

- Quyết định kỷ luật buộc thôi việc;

- Thông báo hoặc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

Trường hợp người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 43 Luật Việc làm thì giấy tờ xác nhận về việc chấm dứt hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng là bản chính hoặc bản sao có chứng thực của hợp đồng đó.

c) Sổ bảo hiểm xã hội.

Câu 47. Bạn đọc có địa chỉ email thao.nguyen@hme.com.vn hỏi:

Công ty em có 1 nhân viên mới tham gia BHXH lần đầu (chưa có sổ BHXH), vậy công ty cần làm những hồ sơ gì và giấy tờ gì kèm theo để báo tăng bảo hiểm cho bạn nhân viên đó?

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo hướng dẫn của BHXH Việt Nam, thủ tục hồ sơ đăng ký (lần đầu) cho người lao động bao gồm:

 a, Đối với người lao động: Tờ khai tham gia, điều chỉnh thông tin BHXH, BHYT (mẫu TK1-TS, ban hành kèm theo Quyết định số 505/QĐ-BHXH ngày 27/3/2020 của BHXH Việt Nam)

b, Đối với người sử dụng lao động: Danh sách lao động tham gia BHXH, BHYT, BHTN, BH TNLĐ, BNN (mẫu D02-TS, ban hành kèm theo Quyết định số 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017 của BHXH Việt Nam)

Câu 46. Bạn đọc có địa chỉ email ykhay…@gmail.com hỏi:

Tôi mới chuyển trường được 1 năm, dạy tại 1 trường tiểu học vùng 0.7 (trước kia tôi dạy vùng 0.3). Hiện tôi đang nghỉ sinh từ 1/3/2020 đến 1/9/2020. Tôi muốn hỏi tiền thai sản tôi nhận được là bao nhiêu? Lương 9 triệu 4, bậc 2 (2.41), tôi đã dạy được 6 năm.

BHXH Việt Nam trả lời:

Khoản 2, khoản 3 Điều 31 Luật BHXH năm 2014 quy định điều kiện hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ sinh con là: Phải đóng BHXH từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc lao động nữ đã đóng BHXH từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng BHXH từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.

Khoản 1 Điều 34 Luật BHXH quy định: Lao động nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng. Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.

Mức hưởng chế độ thai sản một tháng theo quy định tại khoản 1 Điều 39 Luật BHXH và khoản 1 Điều 12 Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2015 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc là mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của 6 tháng liền kề gần nhất trước khi nghỉ việc. Nếu thời gian đóng BHXH không liên tục thì được cộng dồn.

Ngoài ra, Điều 38 Luật BHXH quy định: Lao động nữ sinh con được trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng lao động nữ sinh con.

Khoản 1 Điều 89 Luật BHXH quy định: Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là tiền lương theo ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có).

Do Bạn không nêu cụ thể mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH 06 tháng liền kề trước khi Bạn nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi sinh con nên BHXH Việt Nam không có căn cứ trả lời cụ thể. Đề nghị Bạn căn cứ các quy định nêu trên để được biết quyền lợi về chế độ thai sản đối với Bạn.

Các chuyên gia của BHXH Việt Nam trả lời trực tuyến bạn đọc

Câu 48. Bạn đọc có địa chỉ email trantronghieu5194@gmail.com hỏi:

 Trước đây tôi đi làm và có tham gia BHXH tự nguyện. Hiện tôi không còn làm ở đó nữa nhưng cơ quan chưa chốt được sổ BHXH. Tôi có mã số BHXH và muốn mua tiếp tục thì thủ tục thế nào? Mong quý cơ quan trả lời giúp tôi.

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 134/2015/NĐ-CP ngày 29/12/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật BHXH về BHXH tự nguyện thì trường hợp của bạn không đi làm tại cơ quan nữa thì có thể tham gia BHXH tự nguyện. Bạn chỉ cần liên hệ với Đại lý thu BHXH, BHYT (Bưu điện hoặc UBND xã) hoặc cơ quan BHXH huyện nơi cư trú và cung cấp mã số BHXH để tham gia BHXH tự nguyện.

Câu 49. Bạn đọc có địa chỉ email phuonganh…tlhp@gmail.com hỏi:

Tháng 3 tôi nghỉ không lương tại công ty, hiện nay thẻ BHYT của tôi đã hết hạn từ tháng 4. Vậy giờ tôi đăng ký mua thẻ BHYT hộ gia đình có được không?

BHXH Việt Nam trả lời:

Trường hợp của bạn nghỉ không lương tại công ty nhưng về bản chất vẫn đang ràng buộc hợp đồng lao động, do đó bạn thuộc đối tượng quy định tại Điều 1 nghị định số 146/2018/NĐ-CP ngày 17/10/2018 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật BHXH.

Về nội dung vướng mắc trên, BHXH Việt Nam đã kiến nghị với Bộ Y tế, sau khi Bộ Y tế có văn bản, BHXH Việt Nam sẽ hướng dẫn, triển khai thực hiện.

Câu 50. Bạn đọc có địa chỉ email lamhongnhu…@gmail.com hỏi:

Hiện tại mình đang mang thai được 6 tháng có tham gia BHYT ở công ty nhưng hiện nay công ty ngưng hoạt động nên không đóng BHYT nữa và đã hết hạn ngày 30/4/2020. Vậy nên mình có thể tự đóng tiếp tục được hay không hay phải mua mới?

BHXH Việt Nam trả lời:

Trường hợp của bạn đóng BHYT theo hình thức tham gia BHYT hộ gia đình. Để tham gia BHYT hộ gia đình, bạn tới đại lý thu BHXH, BHYT hoặc cơ quan BHXH nơi gần nhất cung cấp thông tin thẻ BHYT cũ (mã số BHXH), đóng tiền để cơ quan BHXH cấp thẻ BHYT cho người tham gia theo quy định.

Câu 51. Bạn đọc có địa chỉ email khonggian18278@gmail.com hỏi:

Tôi tham gia BHXH bắt buộc từ năm 2002 qua nhiều công ty và đã được chốt sổ bằng các tờ rời. Tuy nhiên từ 2/2018 đến tháng 11/2018 tôi làm việc cho Công ty TNHH MTV Minh Đăng rồi chấm dứt HĐLĐ thì công ty lại không chốt được sổ cho tôi (lý do là công ty mới chỉ đóng đến tháng 6/2018 còn lại 5 tháng công ty lại nợ cơ quan bảo hiểm cho đến nay). Hiện tôi được biết công ty này rất khó khăn và không biết đến bao giờ mới đóng hết số nợ BHXH để người lao động nghỉ việc được chốt sổ. Nay tôi muốn tự đóng nốt số tháng còn thiếu cho cơ quan BHXH để được chốt sổ có được không? (Số tiền này lẽ ra công ty cũ nơi tôi làm việc phải đóng cho tôi)? Nếu được thì tôi đến gặp phòng nào của cơ quan BHXH, thủ tục thế nào?

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo hướng dẫn tại điểm 3.2 Điều 46 sửa đổi, bổ sung Quyết định 505/QĐ-BHXH ngày 27/3/2020 của BHXH Việt Nam sửa đổi bổ sung một số điều Quy trình thu BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN; quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT ban hành kèm theo Quyết định số 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017 của BHXH Việt Nam thì đối với đơn vị nợ tiền đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ, BNNN nếu người lao động đủ điều kiện hưởng BHXH hoặc chấm dứt hợp đồng lao độngg, hợp đồng làm việc thì đơn vị có trách nhiệm đóng đủ BHXH, BHTN, BHTNLĐ, BNN bao gồm cả tiền lãi chậm đóng theo quy định, cơ quan BHXH xác nhận sổ BHXH để kịp thời giải quyết chế độ BHXH, BHTN cho người lao động.

Trường hợp đơn vị chưa đóng đủ thì xác nhận sổ BHXH đến thời điểm đã đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ, BNN. Sau khi thu hồi được số tiền đơn vị còn nợ thì xác nhận bổ sung trên sổ BHXH.

Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 21, khoản 2 Điều 86 Luật BHXH năm 2014, người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng BHXH và trích trừ tiền lương của người lao động để đóng cùng một lúc vào quỹ BHXH. Do đó, không có căn cứ để người lao động đóng cả phần trách nhiệm đóng của người sử dụng lao động.

Câu 52. Bạn đọc có địa chỉ email sont...@gmail.com hỏi:

1. Người lao động đang bảo lưu thời gian tham gia BHXH và đang làm thủ tục xuất cảnh đi ra nước ngoài (không phải định cư) hoặc đang làm việc ở nước ngoài muốn ủy quyền cho thân nhân đang cư trú tại địa phương làm thủ tục hồ sơ và nhận số tiền BHXH một lần của thời gian tham gia BHXH đang bảo lưu có được không?

2. Người đang hưởng trợ cấp Tai nạn lao động hàng tháng và bảo lưu thời gian tham gia BHXH mà qua đời thì được hưởng những chế độ gì?

BHXH Việt Nam trả lời:

1. Về ủy quyền làm thủ tục hồ sơ và nhận tiền BHXH một lần:

Theo quy định tại Điều 60 Luật BHXH năm 2014, Nghị quyết số 93/2015/QH13 ngày 22/6/2015 của Quốc hội và Thông tư số 14/2016/TT-BYT ngày 12/5/2016 của Bộ Y tế thì người lao động thuộc một trong các trường hợp sau đây mà có yêu cầu thì được hưởng BHXH một lần:

- Đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH hoặc lao động nữ là người hoạt động chuyên trách hoặc không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn mà chưa đủ 15 năm đóng BHXH và không tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện;

- Người lao động tham gia BHXH bắt buộc sau một năm nghỉ việc, người tham gia BHXH tự nguyện sau một năm không tiếp tục đóng BHXH mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH khi có yêu cầu thì được nhận BHXH một lần.

- Ra nước ngoài để định cư;

- Người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác mà có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên, không có khả năng hồi phục.

Đối chiếu quy định nêu trên, nếu Bạn thuộc trường hợp hưởng BHXH một lần thì Bạn có thể ủy quyền cho thân nhân để làm thủ tục và nhận tiền BHXH một lần theo quy định tại khoản 6 Điều 18 Luật BHXH năm 2014.

2. Về hưởng chế độ tử tuất đối với thân nhân của người lao động:

Theo quy định tại Luật BHXH năm 2014 thì:

Người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động hàng tháng và bảo lưu thời gian tham gia BHXH mà qua đời thì người lo mai táng được hưởng trợ cấp mai táng theo quy định tại Điều 66 Luật BHXH

Ngoài ra thân nhân được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng (nếu người chết và thân nhân thuộc các trường hợp quy định tại Điều 67 Luật BHXH) hoặc trợ cấp tuất một lần (nếu người chết và thân nhân thuộc các trường hợp quy định tại Điều 69 Luật BHXH).

Do Bạn không cung cấp đủ thông tin về chế độ TNLĐ và thời gian đã đóng BHXH của người lao động nên đề nghị Bạn đối chiếu các quy định nêu trên để biết chế độ BHXH được hưởng, hoặc liên hệ với cơ quan BHXH nơi gần nhất để được trả lời cụ thể.

Câu 53. Bạn đọc có địa chỉ email tocnoi.vnn@gmail.com hỏi:

Cho tôi hỏi nếu thời gian gián đoạn tham gia BHYT nhiều hơn 3 tháng thì sẽ tính như thế nào? Ví dụ thẻ của tôi sẽ đủ 5 năm liên tục từ 01/2021, nhưng năm 2020 tôi bị gián đoạn từ 03/2020 đến 8/2020, thì cơ quan BHXH sẽ tính thời gian tham gia thế nào và thời điểm đủ 5 năm liên tục là khi nào?

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 12 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP ngày 17/10/2018 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHYT thì thời gian tham gia BHYT liên tục là thời gian sử dụng ghi trên thẻ BHYT lần sau nối tiếp lần trước; trường hợp gián đoạn tối đa không quá 03 tháng.

Như vậy, trường hợp thời gian tham gia BHYT của bạn bị gián đoạn từ tháng 03/2020 đến tháng 8/2020 thì thời gian tham gia BHYT đủ 05 năm liên tục của bạn sẽ được tính từ tháng 8/2025.

Câu 54. Bạn đọc có địa chỉ email nguyenthi…@gmail.com hỏi:

Em bị viêm gan B, trường hợp em đi khám ở bệnh viện và dùng thẻ BHYT thì thông tin em bị bệnh có bị tiết lộ cho công ty không? Em rất lo vấn đề bị kỳ thị và bị đuổi việc. Mong được câu trả lời từ cơ quan BHXH Việt Nam.

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo quy định tại Điều 8 Luật Khám bệnh, chữa bệnh người bệnh có quyền được tôn trọng bí mật riêng tư, được giữ bí mật thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong hồ sơ bệnh án.

Thông tin về tình trạng sức khỏe chỉ được phép công bố khi người bệnh đồng ý hoặc để chia sẻ thông tin, kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán, chăm sóc, điều trị người bệnh giữa những người hành nghề trong nhóm trực tiếp điều trị cho người bệnh hoặc trong trường hợp khác được pháp luật quy định.

Do đó, bạn có thể yên tâm khi đi KCB bằng thẻ BHYT mà không lo bị lộ thông tin về tình trạng bệnh của bạn.

Câu 55. Bạn đọc có địa chỉ email ongly…@gmail.com hỏi:

Em làm cho 1 công ty. Vì lý do dịch covid-19 nên đầu tháng 02/2020 công ty cho nghỉ không lương nhưng vẫn hứa là đóng BHXH tháng 2 cho em. Tuy nhiên Công ty em nợ BHXH tháng 2 chưa thanh toán, đồng thời, BHYT của em cũng không có hiệu lực. Trong tháng 2 em nhập viện và thanh toán viện phí hết 2 triệu đồng. Vậy cho em hỏi, nếu Công ty em đóng BHXH tháng 2 cho em sau này thì em có được thanh toán lại tiền đi khám BHYT lần đó không ạ!

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 49 Luật BHYT, trường hợp người sử dụng lao động không đóng BHYT cho người lao động thì người sử dụng lao động (doanh nghiệp) có trách nhiệm:

- Phải đóng đủ số tiền chưa đóng và nộp số tiền lãi bằng hai lần mức lãi suất liên ngân hàng tính trên số tiền, thời gian chậm đóng.

- Phải hoàn trả toàn bộ chi phí cho người lao động trong phạm vi quyền lợi, mức hưởng BHYT mà người lao động đã chi trả trong thời gian chưa có thẻ BHYT.

Câu 56. Bạn đọc có địa chỉ email kathyiolet9841@gmail.com hỏi:

Thẻ BHYT của em có nơi đăng ký KCB BĐ tại Khoa Khám Bệnh, Trung tâm Y tế TP. Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp (87179 - tuyến 3, chưa xếp hạng), nhưng xin giấy chuyển tuyến từ Bệnh viện huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp (87009 - tuyến 3, hạng 3) lên Bệnh viện Phổi Đồng Tháp (87115 - tuyến 2, hạng 2) thì có được hưởng BHYT đúng tuyến không? Có bắt buột phải quay về xin giấy chuyển tuyến từ cơ sở đăng ký khám chữa bệnh ban đầu không?

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Thông tư số 40/2015/TT-BYT ngày 16/11/2015 của Bộ Y tế quy định đăng ký KCB BHYT ban đầu và chuyển tuyến KCB BHYT trường hợp cuả bạn đăng ký KCB ban đầu tại Khoa Khám Bệnh, Trung tâm Y tế TP. Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, nhưng đi KCB tại Bệnh viện huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp và được chuyển lên Bệnh viện Phổi Đồng Tháp thì được xác định là KCB BHYT đúng tuyến.

Do đó, bạn không phải quay về cơ sở KCB ban đầu để xin giấy chuyển tuyến.

Câu 57. Bạn đọc có địa chỉ email hue.ttn@macservice.vn hỏi:

Nhân viên công ty em bị sẩy thai. Em có gửi hồ sơ xét duyệt chế độ xảy thai lên cơ quan BHXH điện tử qua cổng giao dịch điện tử của EFLY kèm  giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH đối với lao động điều trị ngoại trú do Bệnh viện phụ sản cấp. Sau 3 ngày em nhận được email hồ sơ bị từ chối. Thai 7 tuần, số ngày nghỉ là 20 ngày từ 18/3/2020 đến 16/4/2020. Ngày 7/5/2020 em gửi hồ sơ vì tháng 4 công ty em nghỉ dịch. Vậy quý cơ quan có thể trả lời giúp em hồ sơ em gửi sai ở đâu để em sửa được không?

BHXH Việt Nam trả lời:

Khoản 2, khoản 5 Điều 101 Luật BHXH năm 2014 quy định hồ sơ hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ bị sẩy thai bao gồm:

- Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH đối với trường hợp điều trị ngoại trú, Giấy ra viện đối với trường hợp điều trị nội trú.

- Danh sách người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản do người sử dụng lao động lập (Mẫu số 01B-HSB ban hành kèm theo Quyết định số 166/QĐ-BHXH ngày 31/01/2019 của BHXH Việt Nam)

Khoản 3, khoản 4 Điều 102 Luật BHXH năm 2014 quy định về trách nhiệm của cơ quan BHXH trong giải quyết hưởng chế độ thai sản như sau: Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định từ người sử dụng lao động, cơ quan BHXH phải giải quyết và tổ chức chi trả cho người lao động. Trường hợp cơ quan bảo hiểm xã hội không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Đối với trường hợp của Bạn, đề nghị Bạn căn cứ vào lý do từ chối trên email mà cơ quan BHXH trả lại hồ sơ đơn vị Bạn đã gửi qua EFY. Trường hợp còn nội dung vướng mắc, Ban liên hệ với cơ quan BHXH nơi Công ty Bạn đóng BHXH để được biết cụ thể lý do Cơ quan BHXH từ chối hồ sơ.

Câu 58. Bạn đọc có địa chỉ email tranvinh…mdf@gmail.com hỏi:

Người lao động nghỉ việc riêng không hưởng lương, có số ngày nghỉ chưa đến 14 ngày làm việc, có tổng thu nhập từ lương dưới mức lương tối thiểu vùng. Vậy khi đóng tiền BHXH thì phải đóng như thế nào? Phần phải đóng của người sử dụng lao động là 21.5% do ai chịu trách nhiệm trả và trả theo tỷ lệ lương tối thiểu vùng hay lương thực nhận?

BHXH Việt Nam trả lời:

Căn cứ Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; điểm c, Mục 3 Công văn số 2845/BNV-CCVC ngày 29/7/2014 của Bộ Nội vụ về vướng mắc trong thực hiện BHXH đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thì ở cấp xã không có đối tượng là người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động.

Câu 59. Bạn đọc có địa chỉ lamviethungks@gmail.com hỏi:

Tôi làm kế toán một đơn vị trường học ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An. Tháng 1/2020 cơ quan BHXH huyện gửi danh sách hệ số lương, chức vụ, thâm niên về cho đơn vị và báo đơn vị nộp thừa 32.000.000 đồng. Khi đối chiếu lại hồ sơ tôi thấy có 14 nhân viên chưa điều chỉnh hệ số lương, chức vụ, thâm niên từ năm 2016 trở lại đây. Tôi đã làm hồ sơ điện tử điều chỉnh lại cho các nhân viên đó. Tuy nhiên cơ quan BHXH huyện yêu cầu tôi phải nộp tiền lãi với số tiền 21.000.000 đồng thì mới điều chỉnh hồ sơ được. Tôi có hỏi tại sao phải nộp lãi và mức lãi cao vậy hơn 60% và được giải thích rằng phần mềm tự tính. Vậy cho tôi hỏi ở trường hợp tôi có phải nộp lãi hay không vì tôi vẫn chuyển đầy đủ số tiền cho đơn vị bảo hiểm. Mong quý cơ quan có thể trả lời cho tôi.

BHXH Việt Nam trả lời:

Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 122 Luật BHXH năm 2014 ; khoản 3 Điều 49 Văn bản hợp nhất Luật BHYT số 01/VBHN- VPQH ngày 10/7/2014; khoản 2 Điều 18 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc, trường hợp sau 6 tháng kể từ ngày có quyết định điều chỉnh tăng tiền lương tháng đóng BHHX, BHYT, BHTN cho người lao động mới thực hiện truy đóng BHXH, BHYT, BHTN được tính bao gồm số tiền phải đóng BHXH, BHYT, BHTN bắt buộc theo quy định và tiền lão tính trên số tiền phải đóng.

Đối với trường hợp điều chỉnh tăng tiền lương đóng BHXH, BHYT, BHTN mà đơn vị đã thực hiện trích, đóng vào quỹ BHXH, BHYT, BHTN đầy đủ, kịp thời thì không phải nộp tiền lãi chậm đóng.

Câu 60. Bạn đọc có địa chỉ email hongthaibrvt@gmail.com hỏi:

Hiện tại ở các doanh nghiệp sản xuất ngoài các khoản trợ cấp và hỗ trợ gắn trực tiếp tới công việc thì còn 1 số khoản phát sinh thêm trong quá trình hoạt động, cụ thể:

1. Phụ cấp trách nhiệm của An toàn vệ sinh viên Theo quy định tại Điểm b Khoản 5 Điều 74 Luật An toàn, Vệ sinh lao động (năm 2015): “Người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động có quyền vẫn được trả lương và được hưởng phụ cấp trách nhiệm khi dành một phần thời gian để thực hiện nhiệm vụ. Mức phụ cấp trách nhiệm do người sử dụng lao động và Ban chấp hành công đoàn cơ sở thống nhất thỏa thuận và được ghi trong quy chế hoạt động của mạng lưới hoạt động của an toàn, vệ sinh viên”.

2. Hỗ trợ thường xuyên về Phòng cháy chữa cháy cho Đội trưởng Đội phó Phòng cháy chữa cháy cơ sở kiêm nhiệm Theo quy định tại Khoản 3 Điều 35 Nghị định số 79/2014/NĐ-CP về chế độ, chính sách đối với người tham gia công tác phòng cháy và chữa cháy: “Đội trưởng, Đội phó đội phòng cháy và chữa cháy cơ sở không chuyên trách ngoài việc được hưởng nguyên lương và các khoản phụ cấp khác (nếu có) còn được hưởng hỗ trợ thường xuyên do cơ quan, tổ chức quản lý chi trả. Căn cứ vào điều kiện thực tế, người đứng đầu cơ quan, tổ chức quyết định, mức hỗ trợ cho từng chức danh nhưng không thấp hơn hệ số 0.3 lương cơ sở.” Vậy với 2 khoản bổ sung nêu trên thì theo quy định của BHXH Việt Nam có bắt buộc phải đóng hay không? Rất mong quý Cơ quan phân tích và trả lời giúp. Xin trân trọng cảm ơn!

BHXH Việt Nam trả lời:

Căn cứ quy định tại Điều 17 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc; Khoản 2 và Khoản 3 Điều 30 Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2015 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc, từ ngày 01/01/2018 tiền lương tháng đóng BHXH là mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định của pháp luật về lao động ghi trong hợp đồng lao động. Phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác ghi trong hợp đồng lao động theo quy định Điểm a Khoản 2 và Điểm a Khoản 3 Điều 4 của Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH ngày 16/11/2015 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cụ thể:

- Phụ cấp lương là các khoản phụ cấp lương để bù đắp yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động mà mức lương thỏa thuận trong hợp đồng lao động chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ như phụ cấp chức vụ, chức danh; phụ cấp trách nhiệm; phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thâm niên; phụ cấp khu vực; phụ cấp lưu động; phụ cấp thu hút và các phụ cấp có tính chất tương tự.

- Các khoản bổ sung khác là các khoản bổ sung xác định được mức tiền cụ thể cùng với mức lương thỏa thuận trong hợp đồng lao động và trả thường xuyên trong mỗi kỳ trả lương. Các khoản bổ sung khác không bao gồm không bao gồm các khoản chế độ và phúc lợi khác, như tiền thưởng theo quy định tại Điều 103 của Bộ luật lao động, tiền thưởng sáng kiến; tiền ăn giữa ca; các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, tiền nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ; hỗ trợ khi người lao động có thân nhân bị chết, người lao động có người thân kết hôn, sinh nhật của người lao động, trợ cấp cho người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các khoản hỗ trợ, trợ cấp khác ghi thành mục riêng trong hợp đồng lao động theo khoản 11 Điều 4 của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động.

Đề nghị Ông (Bà) đối chiếu với quy định nêu trên để thực hiện đóng BHXH theo đúng quy định.

Câu 61. Bạn đọc có địa chỉ email phuongnguyen…@gmail.com hỏi:

Công ty tôi báo tăng cho người lao động, khi nhập số sổ BHXH của người lao động vào phần mềm không thấy hiện ra mã số BHXH của người lao động đó. Trong trường hợp này, tôi có nên tiếp tục nộp báo tăng cho người lao động đó không và làm thế nào để xác định được việc đóng BHXH cho người lao động đó đã được hoàn thành nếu tôi đã làm ủy nhiệm chi và nộp tiền cho cơ quan BHXH. Tôi mong sớm nhận được giải đáp từ quý cơ quan.

BHXH Việt Nam trả lời:

Trong trường hợp này, đơn vị sử dụng lao động hướng dẫn người lao động kê khai Tờ khai TK1-TS (khai báo đầy đủ thông tin người lao động), lập danh sách lao động tham gia BHXH, BHYT (mẫu D02-TS) và gửi hồ sơ lên cơ quan BHXH.

Cơ quan BHXH có trách nhiệm cấp mã số BHXH, đồng bộ dữ liệu hộ gia đình và báo tăng đóng BHXH, BHYT cho người lao động theo quy định

Câu 62. Bạn đọc có địa chỉ email huyen…@gmail.com hỏi:

Tôi là giáo viên trường THCS công lập, tháng 11/2011 và tháng 1,2/2012 tôi nhận lương và đóng bảo hiểm đầy đủ (trừ trên bảng lương). Đến nay khi nhận số mới phát hiện sổ ghi không tham gia BHXH 3 tháng này. Vậy cho tôi hỏi ai sẽ đóng BHXH cho tôi 3 tháng khi BHXH huyện đồng ý truy đóng BHXH cho tôi?

BHXH Việt Nam trả lời:

Căn cứ quy định tại Điều 17, Điều 18, Điều 19; khoản 2 Điều 21; khoản 3 Điều 122 Luật BHXH năm 2014, người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng BHXH và hằng tháng trích từ tiền lương của người lao động để đóng cùng một lúc vào quỹ BHXH.

Trường hợp người sử dụng lao động chưa đóng đủ BHXH cho người lao động thì ngoài việc đóng đủ số tiền chưa đóng, chậm đóng và bị xử lý theo quyết định của pháp luật, còn phải nộp số tiền lãi bằng 02 lần mức lãi suất đầu tư quỹ BHXH bình quân của năm trước liền kề tính trên số tiền, thời gian chậm đóng.

​Vì vậy, trường hợp Trường nơi Ông (Bà) làm việc, đóng BHXH thiếu 03 tháng thì Ông (Bà) đề nghị Trường có trách nhiệm đóng bổ sung số tiền BHXH còn thiếu và tiền lãi.

Câu 63. Bạn đọc có địa chỉ email thinh@kimminh.com hỏi:

Khi tham gia BHYT đủ 05 năm liên tục thì sẽ được hưởng những quyền lợi gì khác so với khi không tham gia liên tục?

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo quy định trường hợp người tham gia BHYT thuộc đối tượng cùng chi trả (5% hoặc 20%) tham gia BHYT đủ 05 năm liên tục và có số tiền cùng chi trả trong năm (được tính từ ngày 01 tháng 01) vượt quá 06 tháng lương cơ sở thì được quỹ BHYT thanh toán 100% chi phí KCB trong phạm vi quyền lợi của người bệnh kể từ thời điểm người bệnh tham gia đủ 05 năm liên tục đến hết ngày 31 tháng 12 của năm đó.

Câu 64. Bạn đọc có địa chỉ email duyen9441@gmail.com hỏi:

Em muốn hỏi cách thức đăng ký khám chữa bệnh BHYT ở Đại Học.

BHXH Việt Nam trả lời:

Trường hợp bạn là sinh viên thì sẽ tham gia BHYT theo trường đại học. Theo quy định, vào đầu mỗi năm học Trường Đại học sẽ thông báo đến các lớp, sinh viên về việc đăng ký tham gia BHYT. Sau khi có thông báo của Trường, các sinh viên thực hiện đăng ký và nộp tiền mua thẻ BHYT và nhận thẻ BHYT theo hướng dẫn của Trường.

Câu 65. Bạn đọc có địa chỉ email Greenzone@gmail.com hỏi:

Vợ tôi đi làm tại doanh nghiệp tư nhân, có đóng BHYT liên tục từ tháng 1/2015 đến hết tháng 4/2020 (thẻ có ghi: thời điểm đủ 5 năm liên tục 1/2/2020) sau đó thì nghỉ việc từ tháng 5/2020 và tạm dừng đóng BHYT. Vậy cho tôi hỏi: Nếu vợ tôi sinh con vào tháng 11/2020 thì có được hưởng BHYT khi nằm viện không? Nếu vợ tôi muốn được hưởng chế độ BHYT khi sinh con thì phải tham gia BHYT tự nguyện vào khoảng thời gian nào để có thể được hưởng. Tôi xin cảm ơn

BHXH Việt Nam trả lời:

Do vợ bạn đã tạm dừng đóng BHYT từ tháng 05/2020, vì vậy thẻ BHYT cũ của vợ bạn không còn hiệu lực. Để được hưởng chế độ BHYT khi sinh con (tháng 11/2020), thì vợ bạn cần tiếp tục tham gia BHYT hộ gia đình. Đề nghị Bạn liên hệ với BHXH nơi cư trú để được hướng dẫn tham gia BHYT theo hộ gia đình

Câu 66. Bạn đọc có địa chỉ email vulan81gl|@gmail.com hỏi:

Tôi quê ở Huyện Cầu kè, Tỉnh Trà Vinh. Nơi tôi ở là xã nghèo, trên xã có cấp BHYT cho tôi sử dụng theo diện hộ nghèo. Vậy khi tôi đi chữa bệnh, nằm viện nội trú tại Bệnh viện Tai mũi họng TP. HCM nhưng không có giấy chuyển viện, là khám chữa bệnh trái tuyến, tôi có được hưởng BHYT không?

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo quy định tại Khoản 5, Điều 22 của Luật BHYT, nếu bạn là đối tượng được cấp BHYT hộ nghèo đang sinh sống tại các vùng có điều kiện kinh tế -xã hội khó khăn (mã nơi đối tượng sinh sống là K1), vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn (mã nơi đối tượng sinh sống là K2), thì khi bạn tự đi KCB tại BV Tai Mũi Họng TP.HCM (không có giấy chuyển viện) bạn vẫn được Quỹ BHYT thanh toán 100% chi phí thuộc phạm vi hưởng như khi bạn đi KCB đúng tuyến

Câu 67. Bạn đọc có địa chỉ email hoangyen040401@gmail.com hỏi:

Em có điều trị và mổ nang răng tại Bệnh viện Thái Thượng Hoàng. Bệnh viện thông báo mọi chính sách hưởng BHYT của bệnh viện như các bệnh viện khác. Vậy em muốn hỏi mổ nang răng có được hưởng BHYT không?

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo quy định của Luật BHYT và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật, nguời tham gia BHYT khi đi KCB BHYT đúng quy định thì được quỹ BHYT chi trả đầy đủ chi phí trong phạm vi và mức hưởng quy định.

Bệnh viện Thái Thượng Hoàng là bệnh viện tư nhân hạng III, tương đương tuyến huyện. Do đó, trường hợp Bạn đến Bệnh viện Thái Thượng Hoàng khám bệnh và được bác sỹ chỉ định thực hiện Dịch vụ kỹ thuật “Phẫu thuật cắt nang xương hàm”, Bạn sẽ được Quỹ BHYT chi trả chi phí KCB theo mức hưởng ghi trên thẻ BHYT.

Câu 68. Bạn đọc có địa chỉ email lientruong…@gmail.com hỏi:

Tôi sinh năm 1970, tham gia nhập ngũ tháng 9/1991 đến tháng 3/2019 thì nghỉ hưu với cấp bậc Trung tá. Trong thời gian phục vụ trong quân đội, tôi không có huân, huy chương kháng chiến, không có thời gian đóng quân ở biên giới, hải đảo. Tôi đang hưởng chế độ BHYT đối tượng HT3 (mức hưởng 95%). Đến tháng 10/2019, tôi có xin gia nhập vào hội cựu chiến binh. Vậy căn cứ vào quyết định kết nạp hội viên, tôi có nằm trong diện được đổi lên mã quyền lợi thanh toán cao hơn không?

BHXH Việt Nam trả lời:

Căn cứ khoản 5 Điều 2 Pháp lệnh Cựu chiến binh, điểm a khoản 5 Điều 2 Nghị định số 150/2006/NĐ-CP và điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị định số 157/2016/NĐ-CP thì Ông thuộc đối tượng Cựu chiến binh và được cấp thẻ BHYT mã hưởng số 2 (100% chi phí khi đi KCB BHYT đúng quy định).

Để được thay đổi mức hưởng trên thẻ BHYT, đề nghị Ông mang Quyết định nghỉ hưu đến cơ quan BHXH nơi cư trú để được hướng dẫn thủ tục.

Câu 69: Bà Trần Thị Huyền Trang, SĐT: 0985611493 hỏi:

Chị nằm viện, hồ sơ bệnh án ghi U lympho không Hodgkin. Trên giấy nghỉ hưởng chế độ BHXH ghi U lympho C83 nhưng nộp hồ sơ hưởng chế độ ốm đau dài ngày. Cơ quan BHXH yêu cầu ghi rõ bệnh ung thư U lympho, như vậy đúng hay sai?

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo hướng dẫn ghi Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng chế độ BHXH quy định tại Thông tư số 56/2017/TT-BYT ngày 29/12/2017 của Bộ Y tế thì việc ghi nội dung chẩn đoán trong trường hợp mắc bệnh cần chữa trị dài ngày thì ghi mã bệnh, trường hợp chưa có mã bệnh thì ghi đầy đủ tên bệnh (mã bệnh, tên bệnh thực hiện theo quy định tại Thôn tư số 46/2016/TT-BYT ngày 30/12/2016 của Bộ Y tế).

Đối với trường hợp của Bà, Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng chế độ BHXH ghi tên bệnh không đúng với mã bệnh nên việc cơ quan BHXH đề nghị phải ghi thống nhất tên bệnh và mã bệnh là đúng.

Tuy nhiên, cơ quan BHXH tiếp thu ý kiến của Bà và sẽ yêu cầu các cơ sở KCB ghi các nội dung trên Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng chế độ BHXH theo đúng quy định của pháp luật để tránh gây phiền hà cho người bệnh.

Câu 70. Bạn đọc có địa chỉ email lien.to@hoangmocthien.com hỏi:

Hôm nay bạn em bị choáng váng nên phải nhập viện tại phòng cấp cứu bệnh viện đa khoa tư nhân Bình Dương. Trưa 11h bạn em xin xuất viện và bác sĩ đã đồng ý. Khi làm hồ sơ viện phí xong. Em có hỏi xin giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH thì nhân viên bệnh viện nói theo quy định nhập viện thuộc diện cấp cứu không cấp giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH và chỉ có đăng ký khám bệnh mới được cấp giấy. Vậy cho em hỏi Bệnh Viện Đa Khoa Tư Nhân Bình Dương trả lời như vậy đúng hay sai? Xin chân thành cảm ơn!

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo hướng dẫn tại Điều 20 Thông tư số 56/2017/TT-BYT ngày 29/12/2017 của Bộ Y tế quy định chi tiết thi hành Luật BHXH và Luật An toàn vệ sinh lao động thuộc lĩnh vực y tế, việc cấp Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH (GCN) do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (KCB) đã được cấp giấy phép hoạt động cấp. Người hành nghề làm việc tại các cơ sở KCB này căn cứ tình trạng sức khỏe của người bệnh và hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế sẽ cấp GCN cho người bệnh phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn. Vì vậy, việc cấp GCN đối với Bạn phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của Bạn và chỉ định của cơ sở KCB nơi Bạn điều trị.

Các chuyên gia của BHXH Việt Nam trả lời trực tuyến bạn đọc

Câu 71. Bạn đọc có địa chỉ email thinhgv.ico@gmail.com hỏi:

Tôi là một nhân viên làm việc cho công ty Icogroup tại Bắc Giang, đã nghỉ việc được 2 tháng từ giữa tháng 3/ 2020 đến nay. Tôi có xin công ty giấy xác nhận quá trình đóng bảo hiểm của tôi từ lúc vào làm tại công ty để tôi làm BH thất nghiệp thì công ty thông báo là phía BHXH chưa trả quá trình đóng cho tôi được. Đã hơn 2 tháng rồi mà tôi vẫn chưa nhận được tờ rời quá trình đóng bảo hiểm đó để có thể làm được BH thất nghiệp. Rất mong phía văn phòng trả lời cho tôi biết khi nào tôi mới có thể nhận được tờ rời quá trình đóng bảo hiểm của tôi?

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo quy định tại Khoản 5, Điều 21 Luật BHXH thì đơn vị sử dụng lao động có trách nhiệm “ Phối hợp với cơ quan BHXH trả sổ BHXH cho người lao động, xác nhận thời gian đóng BHXH khi NLĐ chấm dứt HĐLĐ, HĐ làm việc hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật”.

Tại Khoản 4 Điều 29, QĐ 595/QĐ-BHXH quy định thời hạn xác nhận sổ BHXH không quá 05 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định.

Vì vậy, đề nghị bạn liên hệ công ty hoặc cơ quan BHXH tỉnh Bắc Giang để xác định nguyên nhân chưa được xác nhận sổ BHXH.

Câu 72. Bạn đọc có địa chỉ email Nguyendungvn95@gmail.com hỏi:

Gia đình tôi là gia đình cận nghèo có mua BHYT mã CN được hưởng 95% chi phí KCB, nay tôi làm công ty và tham gia đóng BHYT thì được cấp thẻ BHYT mã DN hưởng 80% chi phí KCB. Vậy tôi có gộp được thẻ BHYT để dùng mã CN được không?

BHXH Việt Nam trả lời:

Căn cứ quy định tại Công văn số 2745/BHXH-BT ngày 23/7/2018 của BHXH Việt Nm giải quyết vướng mắc về thu, cấp thẻ BHYT và hoàn thiện, cấp mã số BHXH cho người tham gia BHYT thì: người thuộc hộ gia đình nghèo, cận nghèo khi đã đi làm và tham gia BHYT tại công ty thì được cấp thẻ BHYT theo quyền lợi của người lao động. Vì vậy, trường hợp của bạn trước đây là người thuộc hộ cận nghèo nhưng nay đã đi làm thì sẽ được cấp thẻ heo đối tượng người lao động với quyền lợi hưởng 80% chi phí KCB thuộc phạm vi quỹ BHYT thanh toán.

Câu 73. Bạn đọc có địa chỉ email haiduc.105@gmail.com hỏi:

Một người em gái chưa đủ tuổi, mượn CMND của chị gái đi làm công nhân tại Công ty A được 1 năm 3 tháng, tháng 3/2014 chị gái lấy CMND đi làm công nhân tại công ty B. Người em gái đã nghỉ việc, đã nhận tiền trợ cấp thất nghiệp sau 1 năm 3 tháng tại công ty A, sổ BHXH của em ghi là cấp lần 1. Người chị gái làm việc tại công ty B, sau 7 năm mới nghỉ, sổ BHXH của chị gái ghi là cấp lần 2. Chị gái đi làm BH thất nghiệp thì mới biết được trường hợp trên, nên chưa giải quyết được (2 chị em song song đóng cùng thời gian, nhưng sổ thì ghi là cấp lần 1 (của người em), cấp lần 2 (của người chị). Người chị gái có đi lại nhiều lần nhưng cơ quan BHXH tại địa phương vẫn chưa xử lý, dẫn đến kéo dài 3 tháng (kể từ khi nghỉ việc).

Tôi gửi mail này nhờ BHXH hướng dẫn thủ tục, cần nhưng giấy tờ gì, chi phí cần hoàn trả lại (em gái đã nhận), để cho sổ BHXH của chị gái sau này sẽ không bị vướng nữa. Mà sau này vẫn nhận đủ tiền trong thời gian làm của chị gái là 7 năm.  Tôi mong nhận được phản hồi sớm từ quý vị.

BHXH Việt Nam trả lời:

Thông tin bạn cung cấp chưa rõ vì vậy cơ quan BHXH chưa có căn cứ để trả lời. Đề nghị bạn cung cấp thông tin như họ tên, CMND, mã số BHXH, ngày tháng năm sinh để cơ quan BHXH tra cứu, hướng dẫn bạn thực hiện.

Câu 74. Bạn đọc có địa chỉ email hshuonggiang@gmail.com hỏi:

Tôi tham gia BHXH ở một công ty cổ phần được hơn 8 năm. Do phía công ty nợ tiền BHXH của cơ quan BHXH nên khi nghỉ việc ở công ty sổ BHXH của tôi không "chốt" được thời gian (công ty trả sổ BHXH chỉ có mỗi bìa không). Nay tôi đã chuyển sang làm cho doanh nghiệp khác và tiếp tục tham gia BHXH trên số sổ BHXH cũ. Vậy cho tôi hỏi: Làm thế nào để tôi có thể "chốt" được thời gian tham gia BHXH ở công ty cũ? Nếu không chốt được thì thời gian tham gia BHXH của tôi sau này chỉ được tính từ khi tôi tham gia đóng ở công ty mới hiện tại có phải không? Mong anh chị giải đáp.

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo quy định tại Điều 46 quy trình thu BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN, quản lý sổ BHXH thẻ BHYT ban hành kèm theo Quyết định 595/QĐ-BHXH “ Đối với đơn vị nợ đóng BHXH, BHTN. BHTNLĐ-BNN nếu lao động đủ điều kiện hưởng BHXH hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc thì đơn vị có trách nhiệm đóng đủ BHXH, BHTN, BHTNLĐ-BNN bao gồm cả tiền lãi chậm đống theo quy định, cư quan BHXH xác nhận sổ BHXH để kịp thời giải quyết chế độ BHXH, BHTN cho người lao động. Trường hợp đơn vị chưa đóng đủ thì xác nhận sổ BHXH đến thời điểm đã đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ-BNN. Sau khi thu hồi được số tiền đơn vị còn nợ thì xác nhận bổ sung trên sổ”.

Vì vậy, bạn đề nghị công ty cũ chốt sỏ BHXH đến thời điểm đơn vị đã đóng đủ BHXH cho bạn. Sau đó lập Tờ khai tham gia, điều chỉnh thông tin BHXH, BHYT (Mẫu TK1-TS) nộp cho cơ quan BHXH đề nghị gộp quá trình đóng BHXH tại đơn vị cũ với thời gian đã tham gia BHXH tại đơn vị mới.

Câu 75. Bạn đọc có địa chỉ email minhthu8987@gmail.com hỏi:

Tại cơ quan tôi có cán bộ bị lệch ngày tháng năm sinh giữa sổ BHXH với hồ sơ Đảng viên. Đến nay đã có thông báo của Ban Thường vụ Huyện ủy về việc điều chỉnh ngày tháng theo hồ sơ Đảng viên. Vậy tôi cần làm những thủ tục và hồ sơ gì kèm theo để điều chỉnh ngày tháng trên sổ BHXH theo hồ sơ Đảng viên?

BHXH Việt Nam trả lời:

Để thực hiện thay đổi thông tin trên sổ BHXH bạn lập Tờ khai tham gia điều chỉnh thông tin BHXH, BHYT (Mẫu TK1-TS) kèm theo giấy khai sinh hoặc trích lục giấy khai sinh do cơ quan có thẩm quyền về hộ tịch cấp theo quy định; chứng minh thư hoặc thẻ căn cước hoặc hộ chiếu và lý lịch đảng viên (hồ sơ gốc) khi được kết nạp vào Đảng, nộp cho cơ quan BHXH giải quyết.

Câu 76. Bạn đọc có địa chỉ email city.hunter.bg@gmail.com hỏi:

Tôi có đóng BHXH ở 1 Doanh nghiệp năm 2013/2014, sau đó tôi nghỉ việc chưa chốt sổ, công ty sau đó ngừng hoạt động và còn nợ tiền bảo hiểm của tôi. Hiện tại tôi đang đóng BHXH vào số sổ cũ tại doanh nghiệp khác, giờ muốn chốt sổ để hưởng BH thất nghiệp nhưng khi mang sổ đến cơ quan BHXH của đơn vị cũ thì được trả lời là ko chốt sổ cho doanh nghiệp ngừng hoạt động. Theo tôi được biết thì doanh nghiệp dừng hoạt động BHXH vẫn phải chốt sổ cho NLĐ đến thời điểm mà doanh nghiệp đóng BHXH. Vui lòng cho tôi biết giờ tôi phải làm thế nào để được chốt sổ?

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo quy định tại Điều 46 quy trình thu BHXH, BHYT, BHTN, BHTNL-BNN, quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT ban hành kèm theo QĐ số 595/QĐ-BHXH “Đối với đơn vị nợ tiền đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ-BNN nếu người lao động đủ điều kiện hưởng BHXH hoặc chấm dứt HĐLĐ, HĐLV thì đơn vị có trách nhiệm đóng đủ BHXH, BHTN, BHTNLĐBNN bao gồm cả tiền lãi chậm đóng theo quy định, cơ quan BHXH xác nhận sổ BHXH để kịp thời giải quyết chế độ BHXH, BHTN cho người lao động. Sau khi thu hồi được số tiền đơn vị còn nợ thì xác nhận bổ sung trên sổ BHXH. Trường hợp đơn vị chưa đóng đủ thì xác nhận sổ BHXH đến thời điểm đã đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ-BNN. Sau khi thu hồi được số tiền đơn vị còn nợ thì xác nhận bổ sung trên sổ BHXH”.

Trường hợp đơn vị cũ đã ngừng hoạt động, Bạn lập Tờ khai tham gia, điều chỉnh thông tin BHXH, BHYT (Mẫu TK1-TS) đề nghị cơ quan BHXH xác nhận thời gian đóng BHXH trên sổ BHXH đến thời điểm đơn vị đã đóng đủ BHXH.

Câu 78. Bạn đọc có địa chỉ email caysidatinhfc@gmail.com hỏi:

Năm 2020, nhà em được nhận hộ cận nghèo, được nhận BHYT, em có hỏi bác trưởng thôn thì bác bảo là sử dụng BHYT tế cũ, nhưng em làm mất BHYT cũ rồi ạ, vậy làm cách nào để em có thể xin cấp lại BHYT mới ạ. Em cảm ơn!

BHXH Việt Nam trả lời:

Ngày 8/8/2017, BHXH Việt Nam đã ban hành Công văn số 3340/BHXH-ST về việc cấp sổ BHXH, thẻ BHYT theo mã số BHXH. Theo đó, người tham gia được cấp thẻ BHYT theo mã số BHXH để sử dụng lâu dài. Vì vậy, nếu thẻ BHYT của bạn không bị mất, rách, hỏng hoặc bị thay đổi thông tin thì vẫn được sử dụng để đi khám chữa bệnh.

Trường hợp của bạn đã bị mất thẻ BHYT, căn cứ quy định tại tiết a, đ 4.1, k4, đ 27 Quyết định số 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017 của BHXH Việt Nam, đề nghị bạn nộp tờ khai tham gia điều chỉnh thông tin BHXH, BHYT (Mẫu TK1-TS) cho cơ quan BHXH nơi tham gia BHYT để được cấp lại thẻ BHYT.

Câu 77. Bạn đọc có địa chỉ email yennhi170414@gmail.com hỏi:

Con tôi sinh năm 2009 đang học tiểu học đã tham gia đóng BHYT từ năm lớp 1 (hiện vẫn còn thẻ cũ ghi thời gian sử dụng 01/01/2018 và thời gian đủ 5 năm liên tục từ 01/01/2017) đến năm lớp 4 thì cháu chuyển sang trường khác gần nhà và vẫn tiếp tục đóng BHYT. Năm nay cháu đang học lớp 5 trên thẻ BHYT tôi thấy ghi thời gian sử dụng thẻ là 22/01/2019 và thời điểm đủ 5 năm liên tục là 01/01/2024. Như vậy thẻ mới của Cháu ghi là đúng hay sai? Nếu sai thì tôi phải làm thủ tục như nào để hiệu chỉnh lại thời điểm đủ 5 năm liên tục trên thẻ của Cháu? Kính mong đươc Quý Cơ quan phúc đáp.

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 12 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP ngày 17/10/2018 của Chinh phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành 1 số điều của Luật BHYT thì “Thời igan tham gia BHYT liên tục là thời gian sử dụng ghi trên thẻ BHYT lần sau nối tiếp lần trước, trường hợp gián đoạn tối đa không quá 3 tháng”. Đồng thời, ngày 22/11/2018 BHXH Việt Nam ban hành công văn số 238/BHXH-CNTT hướng dẫn việc cấp đổi the BHYT có sai sót thông tin về thời gian tham gia liên tục.

Trường hợp của con bạn chưa có thông tin ụ thể, vì vậy đề nghị bạn cung cấp đầy đủ thông tin của con mình gồm: thông tin về nhân thân ( họ tên, ngày sinh) cùng mã thẻ BHYT cho nhà trường hoặc cơ quan BHXH nơi cấp thẻ hoặc liên hệ với trung tâm hỗ trợ khách hàng của BHXH Việt Nam qua tổng đài 19001068 để được hỗ trợ kiểm tra và giải quyết theo quy định nêu trên.

Câu 79. Bạn đọc Trần Đình Vĩnh hỏi:

Tôi được uỷ ban xã cấp miễn phí BHYT từ năm 2016 đến 2018. Năm 2019 và năm 2020 không có. Và trên thẻ BHYT được cấp có ghi thời điểm đủ 05 năm liên tục: Từ ngày 01/06/ 2021. Vậy năm 2020 thẻ BHYT của tôi còn thời hạn sử dụng không?

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo quy định định tại điểm đ khoản 1 Điều 14 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP ngày 17/10/2018 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành 1 số Điều của Luật BHYT thì “Khi người bệnh có thời gian tham gia BHYT 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí KCB trong năm lớn hơn 06 tháng lương cơ sở thì được quỹ BHYT thanh toán 100% chi phí KCB, trừ trơ]ngf hợp tự đi KCB không đúng tuyến”.

Trường họp bạn thời điểm đủ 5 năm liên tục từ ngày 1/6/2021. Như vậy phải đến ngày 1/6/2021 thẻ BHYT của bạn mới được hưởng quyền lợi 5 năm liên tụ theo quy đinh. Tuy nhiên nếu trong năm 2019 và 2020, bạn không được UBND xã đưa vào danh sách cấp thẻ BHYT, đồng thời cũng không tiếp tục đóng BHYT theo hộ gia đình, thì bạn không được hưởng quyền lợi theo quy định nêu trên và thẻ BHYT đã cấp cho bạn không còn giá trị sử dụng.

Câu 80. Bạn đọc có địa chỉ email daongocmtc1@gmail.com hỏi:

Từ tháng 02/2011 đến tháng 8/2012 tôi có tham gia BHXH ở Công ty Cổ phần kỹ thuật Bảo Dưỡng Bách khoa, trong đó, có thời gian nghỉ thai sản từ tháng 8/2011 đến tháng 11/2011, thời gian đó công ty hoạt động không hiệu quả nên đã nợ tiền BHXH chỉ đóng cho tôi đến tháng 03/2011, do đó dù có tham gia BHXH tôi cũng không được hưởng tiền trợ cấp thai sản, và vấn đề quan trọng là đến bây giờ là tháng 5/2020 tôi không thể chốt được BHXH của quãng thời gian tôi làm việc ở Công ty Bách khoa, giờ tôi muốn tự chốt BHXH thì có được không? Nếu chốt được thì tôi cần làm những thủ tục gì? Đối với quãng thời gian tôi làm việc sau này đã chốt BHXH rồi thì tôi có cần chốt lại không. Tôi mong nhận được câu trả lời và hướng dẫn cụ thể cho trường hợp của tôi.

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo quy định tại Điều 46 quy trình thu BHXH, BHYT, BHTN, BHTNL-BNN, quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT ban hành kèm theo QĐ số 595/QĐ-BHXH “Đối với đơn vị nợ tiền đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ-BNN nếu người lao động đủ điều kiện hưởng BHXH hoặc chấm dứt HĐLĐ, HĐLV thì đơn vị có trách nhiệm đóng đủ BHXH, BHTN, BHTNLĐBNN bao gồm cả tiền lãi chậm đóng theo quy định, cơ quan BHXH xác nhận sổ BHXH để kịp thời giải quyết chế độ BHXH, BHTN cho người lao động. Sau khi thu hồi được số tiền đơn vị còn nợ thì xác nhận bổ sung trên sổ BHXH. Trường hợp đơn vị chưa đóng đủ thì xác nhận sổ BHXH đến thời điểm đã đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ-BNN. Sau khi thu hồi được số tiền đơn vị còn nợ thì xác nhận bổ sung trên sổ BHXH”.

Bạn lập Tờ khai tham gia, điều chỉnh thông tin BHXH, BHYT (Mẫu TK1-TS) nộp cơ quan BHXH để để nghị chốt thời gian đóng BHXH tại công ty Cổ phần kỹ thuật Bảo Dưỡng Bách khoa, sau đó thực hiện gộp quá trình đóng BHXH với thời gian tham gia BHXH sau này.

Câu 81. Bạn đọc có địa chỉ email daothuydhtm@gmail.com hỏi:

Năm 2015 em đi làm tại công ty ở Hải Phòng đến năm 2016 thì em xin nghỉ nhưng không lấy lại sổ BHXH, đến tháng 11/2017 em đi làm tại Công ty khác ở Hà Nội và được làm sổ BHXH mới. Đến tháng 3/2019 em nghỉ làm và đã lấy lại sổ BHXH ở Công ty mới. Nhưng em tra mã số BHXH bằng CMND thì chỉ ra 1 mã số BHXH là số BHXH của công ty đã lấy sổ, trạng thái ghi là đã đồng bộ. Vậy em có cần về Công ty cũ lấy lại sổ BHXH để gộp sổ không ạ? Và em muốn tra quá trình đóng BHXH của em tại công ty cũ nhưng không có mã BHXH thì cơ quan BHXH có thể tra giúp em qua số CMND của em là 031786704 được không ạ?

BHXH Việt Nam trả lời:

Đề nghị bạn liên hệ với BHXH huyện An Dương để cấp lại sổ BHXH giai đoạn bạn tham gia ở Hải Phòng. Sau đó bạn lập tờ khai tham gia điều chỉnh thông tin BHXH, BHYT (Mẫu TK1-TS) kèm sổ BHXH được cấp tại Hà nội (3122332613) và BHXH đã cấp tại Hải Phòng (3115023500) nộp cơ quan BHXH để thực hiện gộp sổ BHXH. Bạn tra cứu thông tin đóng của công ty cũ với mã số 3115023500.

Câu 82. Bạn đọc có địa chỉ email vo.phuoc.dung@gmail.com hỏi:

Tôi sinh 1960, từ 1980 tôi làm công nhân viên chức trường Đại Học Bách Khoa TP.HCM đến năm 1994 nghỉ việc do tinh giảm biên chế, sau đó làm công nhân cho công ty tư nhân. Vậy tôi có được tính thời gian đóng BHXH từ 1980 đến 1994 hay không?

BHXH Việt Nam trả lời:

Căn cứ Khoản 1, Điều 23, Nghị định 115/2015/NĐ-CP quy định chi tiết 1 số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc: “Người lao động có thời gia làm việc trong khu vực Nhà nước trước ngày 01/01/1995 mà được tính là thời gian công tác liên tục nhưng chưa được giải quyết trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp 1 lần, BHXH 1 lần thì thời gian đó được tính là thời gian đã đóng BHXH”.

Do nội dung câu hỏi chưa rõ đã hưởng chế độ trợ thôi việc, trợ cấp 1 lần hay chưa, vì vậy cơ quan BHXH không đủ căn cứ để trả lời.

Các chuyên gia của BHXH Việt Nam trả lời trực tuyến bạn đọc

Câu 83. Bạn đọc có địa chỉ email quthuc@gmail.com hỏi:

 Tôi tham gia BHYT tự nguyện từ 2017, thời hạn 5 năm liên tục là 2020. Trước đó tôi tham gia ở Bình Dương với mã số GD4747424465885 có ghi hạn 5 năm là 2020. Nay về tạm trú Hà Tĩnh mua tiếp nối có nhận thẻ mới số là 4427424665885 nhưng hạn 5 năm là 2025. Vậy tôi phải làm sao để được cập nhật đúng hạn 5 năm cho thẻ mới?

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 12 Nghị định số 146/2018/NĐ-CC ngày 17/10/2018 của Chính[A1]  phủ quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành 1 số Điều của Luật BHYT thì: “ Thời gian tham gia BHYT liên tục là thời gian ghi trên thẻ BHYT lần sau nối tiếp lần trước; trường hợp gián đoạn tôi đa không quá 3 tháng”. Đồng thời, ngày 22/11/2018 BHXH Việt Nam có công văn số 238/BHXH-CNTT hướng dẫn việc cấp thẻ BHYT có sai sót thông tin về thời gian tham gia liên tục, cụ thể: cơ quan BHXH thực hiện việc đổi thẻ BHYT ngay trong ngày làm việc thì đơn vị quản lý đối tượng hoặc người tham gia BHYT đến làm thủ tục cấp đổi thẻ BHYT do sai thông tin về thời gian tham gia BHYT”.

Trường hợp của bạn nếu phát hiện thời điểm đủ 5 năm liên tục trên thẻ chưa chính xác, đề nghị bạn liên hệ với cơ quan BHXH nơi cấp thẻ BHYT để được kiểm tra và điều chỉnh thời gian tham gia đủ 5 năm liên tục trên thẻ BHYT theo quy định nêu trên.

Câu 84. Bạn đọc có địa chỉ email hohanh202@gmail.com hỏi:

Năm 2011, tôi 14 tuổi, có mượn CMND của chị ruột vào Công ty làm ở TP.HCM. Có làm 1 sổ BHXH từ năm 2011 đến năm 2016 là tên của chị tôi. Sau năm 2016, tôi đã nghỉ việc và nhận BHXH 1 lần và cơ quan BHXH cũng đã thu hồi sổ của tôi. Trong thời gian đó, từ năm 2014 đến năm 2019 chị tôi lên Bình Dương làm việc và có 1 sổ BHXH Công ty làm. Hiện nay, chị tôi đã nghỉ việc được 1 năm, khi lĩnh BHXH thì không được vì bị trùng 2 năm trước kia đã cho tôi mượn sổ. Thời gian đóng bị trùng là từ năm 2014 đến năm 2016. Vậy tôi phải làm gì để có thể lĩnh được BHXH của chị tôi.

BHXH Việt Nam trả lời:

Thông tin bạn cung cấp chưa rõ vì vậy cơ quan BHXH chưa có căn cứ để trả lời. Đề nghị bạn cung cấp thông tin như họ tên, CMND, mã số BHXH, ngày tháng năm sinh để cơ quan BHXH tra cứu, hướng dẫn bạn thực hiện.

Câu 85. Bạn đọc có địa chỉ email Hovanhuu3317@gmail.com hỏi:

Ngày 15/4/2020 em có nộp hồ sơ xin hưởng trợ cấp BHXH một lần tại huyện An Phú, tỉnh An Giang. BHXH huyện An Phú, tỉnh An Giang cho biết hồ sơ của em bị từ chối do không hợp lệ và gửi hồ sơ lại cho em với lý do như sau: Tháng 5/2011 đến tháng 3/2012 và đến ngày 13/4/2013 đã nhận trợ cấp một lần của BHXH thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, số sổ này tham gia tiếp tháng 6/2012, vậy dừng đóng chưa đủ 12 tháng đã tham gia tiếp và giải quyết chưa đúng theo công văn số 1017/BHXH-CSXH ngày 27/3/2020 của BHXH Việt Nam. Vậy trường hợp của em có đúng là không hợp lệ không?

BHXH Việt Nam trả lời:

Nội dung của Công văn số 1017/BHXH-CSXH ngày 27/3/2020 của BHXH Việt Nam chỉ đạo BHXH các địa phương về việc thực hiện kết luận kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước. Theo đó, phạm vi rà soát áp dụng đối với các trường hợp đã được giải quyết hưởng BHXH một lần trong năm 2018 và tiếp tục thực hiện việc rà soát từ năm 2019 trở lại đây.

Trường hợp của Bạn không thuộc phạm vi điều chỉnh của Công văn số 1017/BHXH-CSXH nêu trên. Do Bạn không cung cấp mã số BHXH nên BHXH Việt Nam không kiểm tra được quá trình tiếp nhận và xử lý đối với hồ sơ của Bạn. BHXH Việt Nam sẽ trao đổi với BHXH tỉnh An Giang để đảm bảo quyền lợi hưởng BHXH đối với Bạn.

Câu 86. Bạn đọc có địa chỉ email hongknbd@gmail.com hỏi:

Đã có quy định mới về tuổi nghỉ hưu chưa hay vẫn áp dụng nam đủ 60 tuổi, nữ 55 tuổi?

BHXH Việt Nam trả lời:

Tại thời điểm hiện tại (năm 2020), tuổi nghỉ hưu vẫn được áp dụng theo quy định của Luật BHXH năm 2014 và các văn bản hướng dẫn (60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ). Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 169 Bộ luật Lao động năm 2019 thì từ năm 2021 trở đi, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với nam, 55 tuổi 04 tháng đối với nữ, sau đó cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với nam, 04 tháng đối với nữ cho đến khi đạt độ tuổi 62 đối với nam vào năm 2028 và 60 tuổi đối với nữ vào năm 2035.

Câu 87. Bạn đọc có địa chỉ email chuvy18@gmail.com hỏi:

Trong tháng 4/2020, công ty tôi thực hiện hồ sơ báo giảm như sau:

- Ngày 22/04, nộp hồ sơ báo giảm nghỉ việc tháng 5/2020 => không đóng BHYT tháng 5.

- Ngày 29/04 và 30/04, nộp hồ sơ báo giảm không lương tháng 4/2020 => chỉ đóng BHYT.

- Chiều 29/04 nộp tiền BHXH tháng 4/2020. Trên C12 không thể hiện số tiền đã nộp ngày 29/04, không thể hiện báo giảm không lương T04.

Khi liên hệ với BHXH Q11, và được giải đáp như sau:

- Ngày 22/04 đã nhập báo giảm cho tháng 05, nên ngày 29/04 DN nộp báo giảm tháng 04 thì không thể quay lại nhập hồ sơ của tháng 04 => Thời điểm nộp hồ sơ báo giảm cũng phải theo trình tự các tháng trước sau hay phụ thuộc vào mục "kì kê khai" trên hồ sơ đăng ký tăng giảm lao động? Thời điểm ra thông báo C12 của T04 là ngày 11/05 vậy thời điểm chốt hồ sơ của tháng 04 là ngày nào?

- Chuyển tiền BHXH chiều 29/4 => tiền không vào, đến ngày 04/05 mới thấy tiền trong tài khoản nên ghi nhận vào tháng 05. Tất cả các khoản tiền được chuyển trong chiều 29/04 đều đến được chỉ riêng món tiền của BHXH lại vào ngày 04/05

Như vậy, công ty tôi thường chuyển tiền BHXH vào buổi chiều, nhưng chỉ có tháng 04 là bị treo ngoài? Rất mong nhận được phản hồi của Quý Cơ quan BHXH. Trân trọng.

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo phần mềm quản lý thu BHXH, BHYT của cơ quan BHXH thì mỗi một hồ sơ đơn vị bạn nộp vào được tính là một kỳ kê khai. Do ngày 22/4 bạn nộp hồ sơ báo giảm cho tháng 5 nên kỳ kê khai của đơn vị bạn được chốt số tháng 4 và đã chuyển sang tháng 5. Ngày 29 và 30/4, bạn nộp hồ sơ báo giảm không lương thì cán bộ thu sẽ nhập trên kỳ tháng 5 báo giảm ngược lại tháng 4 và kỳ kê khai đó được thể hiện trên C12 tháng 5. Thời điểm chốt C12 là ngày cuối cùng của tháng đó. Bạn cần liên hệ với cán bộ thu để có thể kiểm tra chi tiết.

Câu 88. Bạn đọc có địa chỉ email tranduc...67@gmail.com hỏi:

Ngày 3/2/2020 thẻ BHYT của tôi hết hạn, do không biết nên đến 12/5/2020 tôi mới có thể đóng BHYT, như vậy thẻ BHYT của tôi còn có giá trị 5 năm liên tục không? Mong anh chị giải đáp

BHXH Việt Nam trả lời:

Ngày 8/8/2017, Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam đã ban hành Công văn số 3340/BHXH-ST về việc cấp sổ BHXH, thẻ BHYT theo mã số BHXH. Theo đó, thời hạn sở dụng thẻ BHYT chỉ in giá trị sử dụng. Nếu thẻ BHYT không thay đổi thông tin thì có thể sử dụng thẻ BHYT đã có, không phải in lại hàng năm.

Vì vậy, để tra cứu thông tin về giá trị sử dụng thẻ BHYT, tránh trường hợp bị gián đoạn quá 3 tháng như Bạn đã gặp phải, bạn có thể thông qua các hình thức khác nhau: Kiểm tra qua danh sách cấp thẻ BHYT lưu tại đơn vị, kiểm tra trên Cổng thông tin BHXH Việt Nam ( baohiemxahoi.gov.vn); soạn tin nhắn với cú pháp BH BHYT {Mã thẻ BHYT} gửi đến 8079; gọi Trung tâm Hỗ trợ khách hàng của BHXH Việt Nam qua tổng đài 19001068. Ngoài ra bạn có thể liên hệ trực tiếp với cơ quan BHXH, bưu điện văn hóa xã, UBND xã, đơn vị đại lý thu nợ tgia BHYT, cơ sở KCB BHYT để được giải đáp thỏa đáng. Trước thời điểm hết giá trị sử dụng thẻ BHYT 30 ngày, cơ quan BHXH nơi quạn tham gia BHYT cũng có thông báo bằng tin nhắn qua số điện thoại di động của bạn để đôn đốc, nhắc nhở bạn tiếp tục gia hạn sử dụng thẻ BHYT.

Trường hợp của bạn có thẻ hết hạn sử dụng vào 03/2/2020, nhưng đến 12/5/2020 mới tiếp tục đóng BHYT. Vì vậy, thời điểm tham gia đủ 05 năm liên tục của bạn sẽ được tính lại bắt đàu từ ngày 12/5/2020 theo quy định tại K5, Điều 12, NĐ số 146/2018/NĐ-CP ngày 17/10/2018 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành 1 số điều của Luật BHYT.

Câu 89. Bạn đọc có địa chỉ email ngocthuy…@gmail.com hỏi:

Bà tôi nay đã 80 tuổi, đủ tuổi hưởng chế độ trợ cấp người cao tuổi. Hiện nay, bà tôi đang hưởng trợ cấp dành cho thân nhân liệt sỹ từ ông tôi là liệt sỹ. Năm ngoái, bố tôi mất và gia đình tôi đã lấy tiền tử tuất theo chế độ 1 lần. Như vậy, bà tôi có được hưởng chế độ trợ cấp người cao tuổi nữa không?

BHXH Việt Nam trả lời:

Nội dung Bạn đọc hỏi về việc hưởng trợ cấp người cao tuổi đối với người đang hưởng trợ cấp dành cho thân nhân liệt sỹ không thuộc thẩm quyền trả lời của cơ quan BHXH. Đề nghị Bạn đọc liên hệ cơ quan Lao động – Thương binh và Xã hội địa phương để được giải đáp nội dung này.

Câu 90. Bạn đọc có địa chỉ email phucduybui…@yahoo.com.vn hỏi:

Tôi 46 tuổi đóng BHXH được 22 năm, nếu tôi đóng thêm 4 năm nữa là 26 năm thì lúc đó tuổi của tôi được 50 tuổi, tôi muốn lĩnh lương hưu sớm thì có được không? Và khi đó thì tôi lĩnh được bao nhiêu tiền một tháng? Lý do tôi muốn lĩnh lương hưu sớm là tôi bị bệnh và mổ 2 lần khi còn làm ở Công ty cũ, và tôi có được giảm trừ tuổi hưu không vậy? Ngành tôi làm trước đây là Công nhân dây máy của Bưu Điện?

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo quy định pháp luật về BHXH hiện hành về điều kiện hưởng lương hưu đối với người tham gia BHXH bắt buộc là người lao động khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên và thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi;

2. Nam từ đủ 55 tuổi đến đủ 60 tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên;

3. Được hưởng lương hưu với mức thấp hơn nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Bị suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80% và nam đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi.

- Bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên và nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi.

- Bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên và có đủ 15 năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành.

Do Bạn không cung cấp đầy đủ thông tin Bạn là nam hay nữ, chức danh nghề để xác định điều kiện lao động (công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm)… nên BHXH Việt Nam chưa đủ căn cứ để trả lời cụ thể. Đề nghị Bạn cung cấp hồ sơ giấy tờ liên quan đến cơ quan BHXH để được xem xét, trả lời đầy đủ các nội dung Bạn quan tâm.

Câu 91. Bạn đọc có địa chỉ email 33005tan…loi@gmai.com hỏi:

Đến tháng 11/2020 là tôi đủ 60 tuổi, hiện tôi đã đóng BHXH được 7 năm 3 tháng, như vậy khi nghỉ việc tôi được giải quyết chế độ như thế nào?

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 60 Luật BHXH thì người lao động đủ tuổi hưởng lương hưu mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH hoặc 15 năm đóng BHXH đối với lao động nữ là người hoạt động chuyên trách hoặc không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn và không tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện mà có yêu cầu thì được hưởng BHXH 1 lần.

Thông tin Bạn đọc cung cấp, đến tháng 11/2020  Bạn đọc đủ 60 tuổi và có 7 năm 3 tháng đóng BHXH, nếu Bạn đọc có yêu cầu thì được giải quyết hưởng BHXH một lần.

Câu 92. Bạn đọc có địa chỉ email tinhnguyen…@gmail.com hỏi:

Cho tôi hỏi thủ tục rút tiền BHXH một lần?

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo quy định tại Điều 109 Luật BHXH năm 2014, hồ sơ hưởng BHXH 1 lần gồm:

1. Sổ BHXH.

2. Đơn đề nghị hưởng BHXH một lần của người lao động.

3. Đối với người ra nước ngoài để định cư phải nộp thêm bản sao giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc thôi quốc tịch Việt Nam hoặc bản dịch tiếng Việt được chứng thực hoặc công chứng một trong các giấy tờ sau đây:

a) Hộ chiếu do nước ngoài cấp;

b) Thị thực của cơ quan nước ngoài có thẩm quyền cấp có xác nhận việc cho phép nhập cảnh với lý do định cư ở nước ngoài;

c) Giấy tờ xác nhận về việc đang làm thủ tục nhập quốc tịch nước ngoài; giấy tờ xác nhận hoặc thẻ thường trú, cư trú có thời hạn từ 05 năm trở lên của cơ quan nước ngoài có thẩm quyền cấp.

4. Trích sao hồ sơ bệnh án đối với người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế.

 Đề nghị Bạn đối chiếu quy định nêu trên để chuẩn bị hồ sơ nếu đủ điều kiện và liên hệ với cơ quan BHXH nơi Bạn cư trú để được xem xét, giải quyết hưởng BHXH 1 lần khi đủ điều kiện và đủ hồ sơ theo quy định.

Câu 93. Bạn đọc có địa chỉ email trantrieuduong01@gmail.com hỏi:

Tôi tên Trần Thị Triệu Dương, sinh năm 1980. Số sổ BHXH của tôi 4706052164. Tôi muốn hỏi về việc đóng tiếp BHXH tự nguyện. Tôi muốn hỏi thời gian đóng BHXH và mức đóng bao nhiêu nữa và điều kiện nào để tôi có thể hưởng lương hưu?

BHXH Việt Nam trả lời:

Theo quy định của pháp luật về BHXH hiện hành thì thời gian tính hưởng chế độ hưu trí đối với người trước đó có thời gian đóng BHXH là tổng thời gian đã đóng BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện, không bao gồm thời gian đã tính hưởng BHXH một lần.

Điều kiện về thời gian đóng BHXH để hưởng lương hưu đối với người tham gia BHXH tự nguyện là đủ 20 năm đóng BHXH trở lên.

Người tham gia BHXH tự nguyện hằng tháng đóng bằng 22% mức thu nhập tháng do người lao động lựa chọn để đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất; trong đó mức thu nhập thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn hiện nay là (700.000 đồng) và cao nhất bằng hai mươi lần mức lương cơ sở (hiện nay là 29.800.000 đồng).

Người tham gia BHXH tự nguyện được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng theo tỷ lệ phần trăm (%) trên mức đóng BHXH hằng tháng theo mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn cụ thể là: Bằng 30% đối với người tham gia thuộc hộ nghèo; 25% đối với người tham gia thuộc hộ cận nghèo; 10% đối với các đối tượng khác. Thời gian hỗ trợ tối đa là 10 năm.

Nếu Bạn nghỉ việc, không còn thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc mà Bạn quyết định tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện (đây là quyết định rất đúng đắn) tùy điều kiện về thu nhập của bản thân, Bạn đọc có thể lựa chọn mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng BHXH tự nguyện, mức đóng càng cao thì càng có lợi khi tính hưởng lương hưu đối với Bạn đọc sau này.

Để được hướng dẫn cụ thể về thủ tục tham gia và tư vấn các nội dung Bạn quan tâm, mời Bạn liên hệ với cơ quan BHXH tại địa phương hoặc đại lý thu nơi Bạn cư trú.

Câu 94. Bạn đọc có địa chỉ email thuthuy…@gmail.com hỏi:

Tôi là người lao động và hiện tại tôi đăng ký cùng lúc 02 hợp đồng lao động với hai công ty kể từ tháng 2/2020. Công ty 1 ký trước và đã đóng BHXH, BHYT, BH thất nghiệp cho tôi theo mức lương trong hợp đồng lao động. Công ty 2 đóng cho tôi 0.5% BH TNLĐ-BNN trên mức lương tôi đã ký (15 triệu đồng). Tôi muốn hỏi tôi có được hưởng mức BHXH, BHYT tại công ty 2 trực tiếp do người sử dụng lao động vào lương hàng tháng không?

BHXH Việt Nam trả lời:

Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 186 Bộ luật Lao động năm 2012; khoản 1 Điều 4 Nghị định số 44/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động (HĐLĐ), người lao động giao kết hợp đồng lao động HĐLĐ với nhiều người sử dụng lao động mà người lao động và người sử dụng lao động thuộc đối tượng tham gia BHXH, BHYT, BHTN thì người lao động và người sử dụng lao động của HĐLĐ giao kết đầu tiên có trách nhiệm tham gia BHXH, BHYT, BHTN, người sử dụng lao động của các HĐLĐ còn lại có trách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền cho người lao động tương đương với mức đóng BHXH, BHYT bắt buộc, BHTN thuộc trách nhiệm đóng của người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật.

Câu 95. Bạn đọc có địa chỉ email lynnsouza…@yahoo.com hỏi:

Con tôi 9 tuổi là độ tuổi đến trường nhưng do bé bị bệnh động kinh, chậm phát triển nên không thể đi học bình thường như trẻ khác. Tôi làm tự do nên mua BHYT tự nguyện tại xã nhưng hiện xã không bán cho trường hợp như con tôi. Chỉ bán cho các trường hợp có CMND. Vậy làm sao bé có thể mua BHYT cho bé?

BHXH Việt Nam trả lời:

Tại khoản 1, khoản 2 Điều 5 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP ngày 17/10/2018 của Chính phủ quy định đối tượng tham gia BHYT theo hộ gia đình là người có tên trong sổ hộ khẩu, sổ tạm trú trừ những người thuộc đối tượng quy định tại các Điều 1, Điều 2, Điều 3, Điều 4 và Điều 6 nghị định này.

Để tham gia BHYT theo hộ gia đình, bạn đến đại lý thu (UBND, Bưu điện) để làm thủ tục. Trường hợp con của bạn đã có mã số BHXH thì chỉ cần thông báo mã số và đóng tiền; trường hợp chưa có mã số thì kê khai tờ khai (mẫu TK1-TS) và đóng tiền, không cần CMTND.

Câu 96: Bà Vũ Minh Thảo, sinh năm 1953, cán bộ hưu trí, phường Điện Biên, quận Ba Đình, Hà Nội hỏi:

Tôi có thời gian công tác:

 Từ tháng 12/1977 - 1982 là giáo viên cấp 3 tại Cao Bằng;

Từ tháng 01/1983-9/1988 là giáo viên, công nhân viên Quốc phòng, Học viện Chính trị Quân sự;

Từ tháng 10/1988-6/1996 là giáo viên, chủ nhiệm Bộ môn, Học viện Chính trị Quân sự;

Tháng 7/1996-6/2000 là Thiếu tá, chủ nhiệm Bộ môn, Học viện Chính trị Quân sự;

Từ tháng 7/2000-6/2010 là Trung tá, Phó Chủ nhiệm Khoa, Học viện Chính trị Quân sự.

Nghỉ hưu từ tháng 7/2010, nhưng chưa được tính thâm niên giáo viên từ tháng 6/1996 trở về trước. Nay có được hưởng thâm niên theo Nghị định 14/2020/NĐ-CP không?

BHXH Việt Nam trả lời:

Khoản 4 Điều 2 Nghị định số 14/2020/NĐ-CP ngày 20/01/2020 của Chính phủ quy định đối tượng áp dụng chế độ trợ cấp của nhà giáo đã nghỉ hưu chưa được hưởng chế độ phụ cấp thâm niên trong lương hưu đối với nhà giáo là quân nhân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu sau đó chuyển ngành về công tác giảng dạy, giáo dục tại các cơ sở giáo dục công lập khi nghỉ hưu là giáo viên, giảng viên trong lương hưu có phụ cấp thâm niên lực lượng vũ trang nhưng không có phụ cấp thâm niên nhà giáo.

Do Bà chưa cung cấp nội dung tại thời điểm giải quyết hưởng lương hưu Bà đã được tính hưởng thâm niên trong lương hưu hay chưa nên cơ quan BHXH chưa đủ căn cứ để trả lời Bà.

Đề nghị Bà liên hệ trực tiếp với cơ quan BHXH địa phương để căn cứ hồ sơ hưu trí và quy định của Nghị định số 14/2020/NĐ-CP để xem xét, trả lời cụ thể. 

Câu 97: Bạn đọc có địa chỉ email luupd1@msb.com.vn hỏi:

Tôi đang sử dụng thẻ BHYT có mã số: DN4010205139633 cấp ngày 20/12/2017 và tôi đang làm việc liên tục tại 01 tổ chức từ năm 2016 đến nay.

Vào ngày 25/04/2020 tôi bị ngã gãy ngón chân và đã đi khám tại bệnh viện đăng ký khám chữa bệnh là: Bệnh viện Đa khoa Khu vực Thủ Đức.

Tuy nhiên khi đăng ký khám thì được cán bộ bệnh viện thông báo rằng: Thẻ này đã bị khóa từ ngày 01/01/2020, Tôi liên lạc với cơ quan BHXH quản lý đơn vị mà tôi làm việc thì được thông báo rất nhiều lý do bị đóng thẻ và chỉ sau khi tôi gửi KHOẢN 7 ĐIỀU 42, Quyết định 595/BHXH thì khi đó mới thừa nhận do sai sót bên BHXH, vậy tôi muốn hỏi:

- Lý do gì tôi làm việc và đóng BHXH nhưng lại không cấp BHYT cho tôi.

- Tôi muốn nhận lại tiền đã đóng nhưng không được cấp thẻ BHYT, thì thủ tục như thể nào?

Như vậy, các chi phí khám chữa bệnh của tôi trong thời gian đó thì cá nhân, đơn vị nào chịu trách nhiệm giải quyết?

BHXH Việt Nam trả lời:

Đối với trường hợp của bạn chưa được hưởng quyền lợi BHYT do lỗi sai dữ liệu thẻ BHYT. Bạn sẽ được cơ quan BHXH thanh toán trực tiếp chi phí khám chữa bệnh (trong phạm vi quyền lợi) theo đúng mức hưởng ghi trên thẻ.

Đề nghị bạn mang thẻ BHYT, giấy chứng minh nhân thân, sổ khám bệnh, phiếu khám bệnh (nếu khám chữa bệnh ngoại trú), giấy ra viện (nếu điều trị nội trú) và hóa đơn, chứng từ có liên quan của lần khám chữa bệnh, đề nghị thanh toán đến cơ quan BHXH cấp huyện/quận nơi cư trú để được giải quyết./.

ỦY BAN QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP

Địa chỉ: Số 6 Bà Huyện Thanh Quan, Ba Đình, Hà Nội

Điện thoại: 08049558 - Fax: 08049585

Website:www.cmsc.gov.vn

Email: ubqlv@cmsc.gov.vn

Giấy phép: Số 132/GP-TTĐT ngày 26/7/2019

Ghi rõ nguồn "Cổng thông tin điện tử Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp" hoặc

"cmsc.gov.vn" khi phát hành lại thông tin từ website này